150 THUẬT NGỮ ĐỊA CHẤT Y HỌC THÔNG DỤNG
(Kèm theo thuật ngữ tiếng Anh tương đương)

VÕ CÔNG NGHIỆP1 , BÙI HỌC2, NGUYỄN THỊ THANH THỦY2

1Viện Địa chất và Môi trường, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội 
2Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội.

Tóm tắt: Địa chất y học mới ra đời với tư cách một chuyên ngành khoa học chính thống, ghép nối giữa địa chất học và y học chỉ trong vài thập kỷ gần đây. Vì vậy, hệ thuật ngữ của nó hãy còn đang trong quá trình hình thành và không ngừng được bổ sung. Nhiều khái niệm, nhận thức còn chưa thống nhất trong giới khoa học. Trước tình hình đó, chúng tôi, trên cơ sở tham khảo văn liệu trong nước và nước ngoài, cố gắng biên soạn một danh mục 150 thuật ngữ địa chất y học thông dụng nhất, trình bày trong chuyên san này xem như một đề xuất sơ bộ nhằm trao đổi ý kiến với các nhà chuyên môn và góp phần tiến tới xây dựng một hệ thuật ngữ đầy đủ hơn về địa chất y học trong tương lai ở nước ta.

Để tiện tra cứu các thuật ngữ một cách đầy đủ hơn, mời quý bạn đọc truy cập trang Web của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản: http://www.vigmr.vn


1. Ammoni (ammonia - NH3): Chất khí không màu, mùi khai (do vậy tiếng dân gian gọi là "nước đái quỷ"). Trong thiên nhiên NH3 được tạo thành do sự phân hủy các hợp chất hữu cơ có chứa nitơ dùng trong nông nghiệp và từ nước thải công nghiệp, phân động vật... NH3 dễ hoà tan trong nước tạo thành ion NH4+. Trong điều kiện thông khí dưới tác động của một số loài vi khuẩn, NH3 có thể bị oxy hóa thành nitric và nitrat. Ngược lại trong điều kiện thiếu oxy, NH3 và NO3- có thể chuyển hóa thành khí nitơ (N2). NH3 cần thiết cho thực vật để tạo thành protein. Đối với người và động vật, NH3 là chất độc. Khi nồng độ cao nó gây nguy hại cho sức khoẻ.

2. Antimon (antimony - Sb): Tên Latinh stibium, là nguyên tố độc hại, trong đó Sb3+ độc hơn Sb5+. Biểu hiện của sự nhiễm độc Sb là buồn nôn, ỉa chảy, mệt mỏi, chán ăn, ở mức nặng có thể gây ung thư.

3. Asbest (asbestos, asbestus, amiantus): Nhóm khoáng vạt dạng sợi, rất độc hại đối với sức khoẻ, nhất là các crocidolit, do những sợi khoáng siêu nhỏ của nó dễ phát tán trong không khí dưới dạng bụi theo đường hô hấp có thể xâm nhập vào phổi, tích tụ ở các phế nang gây nên những bệnh mãn tính gọi là bệnh nhiễm asbest hay bệnh nhiễm sợi với các triệu chứng: khó thở, ho, hen suyễn và nguy hiểm nhất là ung thư phổi. Còn gọi là amiăng.

4. Arsen (arsenic - As): Nguyên tố độc hại được xem là "vua của những độc tố". Khi được cơ thể hấp thụ vượt ngưỡng cho phép (đối với không khí là vài mg/m3, đối với nước uống: 0,01 mg/l) nó có thể gây ngộ độc, nguy hiểm nhất là ung thư. Độc tính của As tuỳ thuộc vào hóa trị của nó: As hoá trị 3 (As3+) độc hơn As hóa trị 5 (As5+). Người ta cũng nhận thấy khi hấp thụ đồng thời As và Se thì độc tính của hai nguyên tố đều giảm. Còn gọi là thạch tín.

5. Bạc (silver - Ag) : Tên Latinh argientum. Nguyên tố có độc tính thấp đối với cơ thể người. Nó có thể cản trở việc hấp thụ Se, Cu, vitamin E. Với liều lượng lớn nó có thể gây nhiễm độc bạc. Độc tính của Ag giảm khi hàm lượng Ca và Cl trong nước tăng.

6. Bản đồ địa chất y học (medico-geological map, geomedical map): Loại bản đồ thể hiện những yếu tố địa chất có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người như sự có mặt với hàm lượng vượt mức cho phép những nguyên tố độc hại trong đất đá, nước dưới đất (As, Hg, Pb, U, Ra…), những trường vật lý (trọng trường, từ trường, độ phóng xạ) hoặc những dị thường địa sinh thái, những đới địa bệnh nguyên có hại. Đồng thời trên bản đồ cũng thể hiện những yếu tố có lợi như sự có mặt các vi chất dinh dưỡng với mức độ cần thiết cho cơ thể, các nguồn nước khoáng, bùn khoáng, có tác dụng chữa bệnh. Bản đồ địa chất y học có giá trị sử dụng vào việc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bố trí các khu dân cư nhằm bảo đảm điều kiện chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.

7. Bary (barium - Ba): Nguyên tố độc hại. Nước uống chứa nhiều Ba có thể gây bệnh đường ruột, suy nhược cơ bắp, tăng huyết áp. Khi hít thở không khí chứa nhiều bụi Ba sẽ bị bệnh nhiễm bụi bari.

8. Beryli (beryllium - Be): Nguyên tố độc hại. Khi đi vào cơ thể qua đường hô hấp, nó gây viêm phổi, ho ra máu, khó thở, viêm mũi, viêm họng, có thể ung thư phổi. Khi tiếp xúc với da, Be có thể gây ngứa, viêm loét.

9. Bệnh basedow (basedow): Xem:  bệnh nhiễm độc tuyến giáp.

10. Bệnh bụi phổi (pneumoconiosis):  Những loại bệnh do môi trường không khí bị ô nhiễm bởi bụi bặm như bệnh bụi than, bệnh bụi silic, bệnh bụi amiăng. Những hạt bụi rất nhỏ (kích thước dưới 0,5 μm) xâm nhập vào phổi qua đường hô hấp gây khó thở, hen suyễn, ung thư phổi...

11. Bệnh bướu cổ địa phương (endemic goitre): Một bệnh địa phương với biểu hiện tuyến giáp trạng phình to thành một cục bướu nằm phía trước cổ, kích thước khác nhau từ nhỏ cỡ quả trứng đến to bằng quả bóng. Nguyên do là cơ thể thiếu hụt iod (I) - nguyên tố thiết yếu giúp tuyến giáp sản xuất ra hocmôn giáp trạng là chất có tác dụng điều hòa chuyển hóa chất trong cơ thể, duy trì thân nhiệt, phát triển xương và quan trọng hơn cả là phát triển bộ não. Mỗi ngày cơ thể cần 100-200 mcg I. Nếu thiếu, tuyến giáp trạng buộc phải tăng cường hoạt động để sản xuất đủ lượng hocmôn cần thiết cho cơ thể, khiến cho nó phát triển bất thường thành bướu. Bệnh bướu cổ không nguy hiểm chết người nhưng nó thường gây phiền toái, mặc cảm, ảnh hưởng đến thẩm mỹ, có khi làm khó thở, nuốt nghẹn do cổ bị chèn ép và tăng nguy cơ gây ung thư tuyến giáp. Hơn nữa nó chỉ là phần bộc lộ dễ thấy của những rối loạn do thiếu iod, nguy hại hơn đi kèm là thiểu năng trí tuệ, đần độn và những tai biến khác.

12. Bệnh chân voi (elephantiasis, bigfoot disease): Một chứng bệnh với biểu hiện bàn chân (một hoặc cả hai) hoặc cả chân tay và bộ phận sinh dục phình to, da sần sùi, nổi u cục, nứt nẻ, gây khó khăn cho việc đi lại, có khi không vận động được. Bệnh có 2 nguyên nhân: 1) do một số loài giun sán, nấm, phát triển trên da hoặc xâm nhập vào các tế bào dưới da sinh sôi nảy nở và gây nên bệnh, gọi là bệnh chân voi do giun sán; 2) do những hạt khoáng chất (Al, Si, Ti, Fe...) chứa trong các thành tạo núi lửa trẻ xâm nhập vào da những người thường xuyên tiếp xúc với loại đất này gây nên, gọi là bệnh chân voi không do giun sán (non-filarial elephantiasis) hay bệnh vi tinh thể (microcrystal disease).

13. Bệnh dày biểu bì (keratosis): Một chứng bệnh về da với biểu hiện lớp biểu bì bị sừng hoá trở nên dày cộm, mất cảm giác. Bệnh phát sinh do da tiếp xúc lâu ngày với nước nhiễm arsen.

14. Bệnh địa phương (endemic disease): Những bệnh xảy ra có tính cục bộ trong một số địa phương nhất định do môi trường sống như bệnh bướu cổ, đần độn… do môi trường thiếu iod, bệnh sún răng, loãng xương do thiếu fluor, bệnh nhiễm độc arsen do thừa arsen trong môi trường.

15. Bệnh đốm răng (mottled enamel): Một bệnh về răng do cơ thể hấp thụ quá mức cần thiết fluor từ nước uống, thức ăn, gây nhiễm độc. Biểu hiện bệnh là men răng bị thoái hóa, xuất hiện những đốm nâu, đen xỉn, tiến tới hư hỏng hoàn toàn.

16. Bệnh giòn xương (osteosclerosis): Một chứng bệnh phát sinh do cơ thể tiếp thu quá nhiều fluor từ nước uống, thức ăn. Biểu hiện của bệnh là xương xơ cứng, rất dễ gãy, răng bị sứt mẻ, xiêu vẹo.

17. Bệnh học địa phương (regional pathology): Lĩnh vực y học chuyên nghiên cứu những chứng bệnh liên quan với các điều kiện địa lý, địa chất của từng địa phương, gọi là bệnh địa phương như bệnh bướu cổ, bệnh Kashin-Beck, bệnh Keshan, …

18. Bệnh itai-itai (itai-itai): Bệnh nhiễm độc cadmi xảy ra ở Nhật nên được gọi theo tiếng Nhật. Còn gọi là bệnh ouch-ouch. Xem thêm: cadmi.

19. Bệnh Kashin-Beck (Kashin-Beck disease): Xem: bệnh Urov.

20. Bệnh Keshan (Keshan disease): Một chứng bệnh địa phương về hệ tim mạch gọi là bệnh cơ tim địa phương (endemic cardiomyopathy) với các biểu hiện: tim phù nề, đau nhói, loạn nhịp, khó thở, ... Bệnh xảy ra trầm trọng ở vùng Keshan (Khắc Sơn, Trung Quốc) nên mang tên địa phương. Bệnh còn được phát hiện ở nhiều vùng khác. Nguyên nhân là lương thực chủ yếu của dân địa phương là lúa mì, đỗ tương, quá nghèo selen (Se) - một vi chất dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể.

21. Bệnh loãng xương (osteoporosis): Một chứng bệnh về xương do cơ thể thiếu fluor, calci, với các biểu hiện xương kém độ cứng (xốp) dễ bị cong vẹo, gãy. Bệnh thường thấy ở người già, phụ nữ sau mãn kinh do cơ thể của tầng lớp người này có nhu cầu nhiều F, Ca để củng cố bộ xương mà lượng cung cấp của những nguyên tố này lại thiếu hụt. Để phòng ngừa bệnh này, người ta phải áp dụng các biện pháp bổ sung F vào nước uống, kem đánh răng… Còn gọi là bệnh xốp xương.

22. Bệnh "mù loạng choạng" (blind staggers): Một bệnh địa phương của gia súc do thức ăn chứa quá nhiều selen với biểu hiện bước đi lảo đảo, không điều khiển được tứ chi, hay gục ngã, có khi không tự đứng dậy được.

23. Bệnh Minamata (Minamata disease): Một bệnh ở thần kinh trung ương do tai họa môi trường xảy ra ở một thị trấn trên bờ vịnh Minamata (Nhật Bản) trong thời gian 1953-1967. Triệu chứng là giảm thị lực, thính lực (đến mù, điếc hoàn toàn), nói ngọng, rối loạn vận động, co giật cơ bắp đến tê liệt, tử vong. Trong số 30 nghìn người bị bệnh có gần 800 người chết. Nguyên nhân là nước thải có chứa thuỷ ngân từ nhà  máy hóa chất Chisso xả vào vịnh, gây nhiễm độc cho tôm cá, sò ốc. Dân trong vùng ăn phải những thủy sản này cũng bị nhiễm độc, sinh ra những chứng bệnh trên. Người ta lấy tên địa phương để đặt tên cho loại bệnh này.

24. Bệnh nhiễm bụi chân (podoconiosis): Một dạng của bệnh chân voi do chân tiếp xúc với bụi khoáng chứa nhiều Si, Al, Fe, Ti, ... Bệnh thường gặp trong cộng đồng cư dân nông nghiệp có thói quen đi chân trần, làm việc trên những vùng đất đỏ hạt siêu mịn (bụi) - sản phẩm phong hoá từ đá bazan kiềm. Những hạt bụi này xuyên qua biểu bì, xâm nhập vào lớp tế bào dưới da, tích tụ lại làm cho chân phì đại, dị dạng (do vậy nó được gọi là bệnh nhiễm bụi chân). Còn gọi là bệnh vi tinh thể.

25. Bệnh nhiễm sợi (fibrosis,  fibrous disease, pulmonary fibrosis): Những chứng bệnh, chủ yếu thuộc đường hô hấp, do hít thở phải những sợi rất mảnh (khoảng 1/10 μm) bay lơ lửng trong không khí như các sợi khoáng, sợi bông, lông tơ, ... Khi đi vào phổi, chúng lấp kín các phế nang gây ngạt thở, hen suyễn, có khi ung thư. 

26. Bệnh sún răng (dental caries): Một chứng bệnh về răng với biểu hiện men răng bị phá huỷ để lộ lớp ngà và tuỷ, khiến cho răng hư hỏng hoàn toàn. Bệnh thường gặp ở trẻ em. Nguyên nhân là do ăn nhiều đường, kẹo và cơ thể thiếu fluor (khi hàm lượng fluor trong nước uống dưới 0,5- 0,7 mg/l).

27. Bệnh thiếu máu do thiếu sắt (iron deficiency anaemia): Xem: sắt.

28. Bệnh Urov (Urov disease): Một bệnh địa phương gọi là bệnh xương khớp địa phương do môi trường sống (nước uống, thức ăn) dư thừa stronti và thiếu calci, thường gặp ở người và gia súc với các biểu hiện đau nhức khớp, xương khớp cong vẹo, dễ gãy. Bệnh phổ biến ở vùng thung lũng sông Urov (phía nam Sibir, Nga) nên được gọi là bệnh Urov. Cũng còn có tên gọi khác là bệnh Kashin-Beck (đặt theo tên của 2 nhà y học Nga đã nghiên cứu bệnh này).

29. Bệnh vi tinh thể (microcrystal disease): Đồng nghĩa: bệnh chân voi, bệnh nhiễm bụi chân.

30. Bệnh Wilson (Wilson’s disease): Một chứng bệnh do nhiễm độc Cu với các triệu chứng vàng da (do hồng cầu bị phá huỷ), nước tiểu lẫn hemoglobin, xơ gan, suy thoái não làm giảm trí tuệ, liệt rung (giống bệnh Parkinson), xuất hiện vòng Kayser-Fleischer ở giác mạc, gây thoái hoá mắt...

31. Bệnh xương khớp địa phương (endemic osteoarthropathy): Xem: bệnh Urov.

32. Bor (boron - B): Nguyên tố dinh dưỡng đối với thực vật. Thiếu B cây cối bị mắc nhiều bệnh: củ cải bị thối lõi, bắp cải bị đốm lá, cần tây bị nứt thân, cỏ linh lăng bị vàng lá, nhiều loài cây không trổ hoa…Đối với người và động vật, vai trò dinh dưỡng của B chưa rõ. Chỉ khi liều lượng quá mức (1-2 mg đối với trẻ em và 20-45 mg đối với người lớn) sẽ gây ngộ độc làm tê liệt hệ thần kinh trung ương. Ngộ độc mãn tính sẽ làm rối loạn tiêu hóa, hô hấp, ảnh hưởng đến gan, thận...

33. Brom (bromine - Br): Nguyên tố có hoạt tính dược lý, có tác dụng điều hoà hoạt động thần kinh chống stress, mất ngủ, hồi hộp, lo âu. Thiếu Br sẽ hạn chế sự phát triển và sinh sản của động vật. Nhu cầu hàng ngày của cơ thể đối với Br là từ 2 đến 8 mg. Nước khoáng brom (cùng với iod) thường có nhiệt độ cao, có tác dụng chữa bệnh về hệ tuần hoàn, tiêu hóa, thần kinh, cơ khớp, da liễu. Br đồng thời cũng là nguyên tố có độc tính. Một số hợp chất của nó có tác dụng diệt cỏ, trừ sâu và loài gặm nhấm.

34. Bụi khoáng (mineral dust): Bụi có chứa những chất khoáng độc hại như amiăng, silic, chì, arsen, nguyên tố phóng xạ, ... phát sinh từ những cơ sở công nghiệp, công trình khai khoáng, phương tiện giao thông, … Bụi khoáng cũng có thể có nguồn gốc tự nhiên như phun trào núi lửa, bão cát, sao băng, … Chúng có khả năng gây nhiều căn bệnh nguy hiểm cho con người, nhất là bệnh lao phổi, ung thư phổi, …

35. Bùn chữa bệnh (curative mud): Những loại bùn thiên nhiên có cấu tạo hạt mịn, độ ẩm cao, dẻo quánh hay nhão, độ dính bám tốt, giữ nhiệt bền… có hoạt tính sinh học và tác dụng dược lý nên được dùng vào mục đích chữa bệnh.

36. Bức xạ ion hoá (ionizing radiation): Loại bức xạ điện từ hoặc hạt, có khả năng tạo ra ion một cách trực tiếp hay gián tiếp khi nó tác dụng với các vật tiếp xúc. Các bức xạ ion hoá bao gồm: bức xạ vũ trụ, những tia α, β, γ, X, do các nguyên tố phóng xạ phát ra qua quá trình phân huỷ. Khi tiếp xúc với cơ thể sinh vật, những bức xạ này phá huỷ tế bào, gây ra bệnh nhiễm xạ, nguy hiểm nhất là ung thư, máu trắng, đồng thời chúng còn gây ra tác động di chuyền cho các thế hệ sau.

37. Cadmi (cadmium - Cd): Nguyên tố độc hại. Nó xâm nhập vào cơ thể theo thức ăn, nước uống và không khí hít thở, khói thuốc lá, có khả năng gây ung thư phổi, thận, cao huyết áp, giòn xương, … Một ví dụ điển hình về sự nhiễm độc Cd là bệnh itai-itai (hay ouch-ouch) xảy ra ở Nhật Bản do sử dụng nước sinh hoạt bị ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật có chứa Cd phun lên đồng ruộng, Bệnh có các biểu hiện: xương cong vẹo, giòn, dễ gãy, thậm chí hít thở mạnh cũng có thể làm gãy xương sườn.

38. Calci (calcium - Ca): Nguyên tố thiết yếu cho cơ thể con người và động vật, đóng vai trò chính trong việc tạo xương, chiếm 2% trọng lượng cơ thể, trong đó 99% tập trung ở xương, răng, dưới dạng phosphat calci. Nhu cầu hàng ngày từ 0,5 đến 1 g tuỳ theo lứa tuổi. Đối với phụ nữ, Ca có vai trò điều hoà sự chuyển hóa trong cơ thể, tham gia quá trình đông máu, giảm huyết áp. Thiếu Ca sẽ mắc bệnh mềm xương, xốp xương, dễ gãy xương, người già còng lưng, trẻ em chậm mọc răng, còi xương, khoèo chân. Nếu Ca trong máu giảm sẽ bị co giật, máu chậm đông. Nhưng khi lượng Ca quá thừa nó sẽ tích tụ lại trong các cơ quan, gây sỏi thận, sỏi mật và bàng quang, vôi hóa các khớp xương và các triệu chứng mệt mỏi, nôn mửa. Thực vật thiếu Ca sẽ dẫn đến sự phá hoại tổ chức tế bào và các mô.

39. Cân bằng dinh dưỡng (nutritional balance): Tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng với tỷ lệ hợp lý giữa các nhóm hoặc các cặp nguyên tố chứa trong thức ăn, nước uống. Ví dụ: người ta nhận thấy các cặp nguyên tố Ca-P, Cu-Mo trong thực phẩm đòi hỏi phải đạt tỷ lệ: Ca/P = 2/1; Cu/Mo = 2/1. Nếu tỷ lệ trên bị lệch về bên này hay bên kia thì sẽ xảy ra sự mất cân bằng sinh thái và phát sinh bệnh tật.

40. Chất độc nồng độ (concentrative poisons): Những hoá chất mà độc tính của chúng tuỳ thuộc vào lượng tiếp thu của cơ thể. Khi nồng độ thấp, chúng phân giải và được bài tiết ra khỏi cơ thể, không đủ gây nhiễm độc. Tác hại (gây bệnh, tử vong) chỉ xảy ra khi nồng độ vượt liều lượng gây chết (lethal dose). Tiêu biểu cho những chất độc này là các thuốc bảo vệ thực vật chứa phosphat, carbamat.

41. Chất độc tích luỹ (cumulative poisons): Những chất độc mà cơ thể khó đào thải, nên khi tiếp xúc tuy với liều lượng nhỏ nhưng thời gian kéo dài thì chúng tích luỹ dần trong từng bộ phận nhất định của cơ thể, đến một mức nào đó thì mới gây tác hại. Tuy nhiên, nếu tiếp xúc với liều lượng lớn thì chúng trở thành chất độc nồng độ.

42. Chất gây bướu cổ (goitrogens): Những chất vô cơ hay hữu cơ có mặt trong thức ăn, nước uống có khả năng gây ra bệnh bướu cổ do hàm lượng quá thấp hoặc quá cao so với ngưỡng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, trong đó ngoài iod đã được nghiên cứu kỹ còn có những chất khác tác động đơn độc hoặc theo từng cặp, từng nhóm tương hỗ nhau. Ví dụ khi thức ăn chứa quá nhiều thiocyanat (chất độc có trong củ sắn) đồng thời lại thiếu Se, hoặc nước uống chứa quá ít iod đồng thời cũng ít Co, Cu và quá nhiều Mn, F thì bướu cổ cũng có nguy cơ gia tăng. Một số thức ăn bằng thực vật như rau cải xoan, hạt kê cũng được xem là những chất gây bướu cổ.

43. Chất gây đột biến (mutagens): Những hoá chất hoặc tia bức xạ có khả năng gây tổn hại hoặc biến đổi vật liệu gien (DNA) trong tế bào sinh vật.

44. Chất gây quái thai (teratogens): Những hoá chất hay nhân tố độc hại khác có khả năng gây dị dạng, quái thai ở người và các sinh vật khác, ví dụ dioxin, tia bức xạ...

45. Chất gây ung thư (carcinogens, carcinogenic agents): Chất có khả năng gây ra các khối u ác tính ở người và động vật.

46. Chlor (chlorine - Cl): Nguyên tố thiết yếu cho cơ thể người và sinh vật. Nó đi vào cơ thể người qua thức ăn, chủ yếu là muối NaCl (>90%) và tích tụ trong máu, dịch vị, bắp thịt, lông-tóc, móng tay-chân; có tác dụng điều hoà sự trao đổi nước-muối, duy trì áp lực thẩm thấu và thành phần của máu cùng dịch vị. Tuy nhiên, hợp chất clo có độc tính cao, có hại cho sức khoẻ và môi trường như các chất chlorofluorocarbon (CFCs), dichlorodiphenyltricloetan (DDT), trichlorofluoromethan, ... có thể gây ung thư.

47. Chrom (chromium - Cr): Nguyên tố cần thiết cho cơ thể để chuyển hóa glucid và lipid với nhu cầu 4-10 mcg/ngày cho trẻ em và 50-200 mcg/ngày cho người lớn (theo khuyến cáo của Hoa Kỳ). Cr đi vào cơ thể theo con đường ăn uống, hô hấp và qua da. Cơ thể thiếu Cr sẽ bị bệnh tiểu đường, tim mạch; thừa Cr sẽ gây nên kích thích da và màng nhầy, viêm loét da, kết mạc, viêm mũi. Ăn uống các thực phẩm chứa nhiều Cr có thể bị nhiễm độc, ung thư, tử vong. Độ độc của Cr tuỳ thuộc vào hóa trị. Cr hóa trị III ít độc hơn Cr hóa trị VI.

48. Chứng đần độn địa phương (endemic cretinism): Một chứng bệnh do môi trường sống (thức ăn, nước uống…) thiếu iod. Bệnh thể hiện ở người ngay từ lúc sơ sinh với các triệu chứng: trí tuệ kém phát triển, ngớ ngẩn, "dở người". Người mắc chứng đần độn thường có thân hình phát triển không cân đối (lùn, thấp), cử chỉ hành động không bình thường, nói ngọng, có khi câm điếc.

49. Chứng "nghiện ăn đất" (geophagy, geophagia, geophagism, geophagical customs, clay eating customs): Thói quen của một số người hay động vật thích ăn đất (sét, caolin, hoàng thổ, tổ mối, mảnh vụn gạch ngói và đồ gốm…) do đòi hỏi sinh lý của cơ thể cần bổ sung sắt hay những nguyên tố thiết yếu có trong đất mà cơ thể thiếu hụt. Các loại đất trên cũng có tác dụng chữa bệnh viêm dạ dày do khả năng trung hoà độ axit. Tuy nhiên, đất đồng thời cũng đưa vào cơ thể những chất độc hại và vi khuẩn gây bệnh có hại cho sức khoẻ.

50. Cobalt (cobalt - Co): Nguyên tố cần thiết cho cơ thể nhưng không được cơ thể hấp thụ trực tiếp mà phải thông qua vitamin B12 chứa trong thực phẩm nguồn gốc động vật, chủ yếu là thịt, gan, sữa (vitamin B12 chứa 4% Co). Nhu cầu hàng ngày của cơ thể đối với B12 là 1-3 mcg, tương ứng với 0,04 - 0,12 mcg Co. Thiếu Co sẽ gây chứng mệt mỏi, giảm trí nhớ, thiếu máu, rối loạn thần kinh, phì đại tuyến giáp (bướu cổ). Ngược lại, nếu thừa Co (liều hấp thụ quá 25 mg/ngày) cơ thể sẽ bị nhiễm độc và phát sinh những bệnh như hen suyễn, viêm mũi, u xơ, bệnh ngoài da. Bụi Co là chất gây ung thư.  Đồng vị phóng xạ 60Co được dùng làm nguồn bức xạ γ trong xạ trị.

51. Cyanur (cyanides): Tên gọi chung các muối của axit xyanhydric như NH4CN, AuCN, CuCN, KCN, Fe(CN)2, Fe(CN)3, Zn(CN)2… Khi chúng xâm nhập vào nguồn nước, phân ly thành các ion cyanur và axit cyanhydric là những độc chất cực mạnh.  Khi đi vào cơ thể người ở mức độ nhẹ, chúng có thể gây nhiễm độc với các biểu hiện: suy nhược thần kinh, đau đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ, rối loạn tiêu hóa, suy giảm chức năng điều hoà vận động của cơ khớp. Ở mức độ nặng thì gây viêm gan, thận, co giật, hôn mê, rối loạn tuần hoàn, hô hấp, đái ra huyết cầu tố, ...

52. Dịch tễ học dinh dưỡng (nutrition epidemiology): Sự áp dụng các nguyên lý và phương pháp dịch tễ học để nghiên cứu các vấn đề dinh dưỡng.

53. Dioxit lưu huỳnh (sulfur dioxide): Hợp chất của oxy và lưu huỳnh, là một chất khí không màu, có mùi cay nồng, được hình thành do sự đốt cháy các khoáng chất, than đá, dầu mỏ có chứa lưu huỳnh dùng trong công nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt, … phát thải vào khí quyển. Khí SO2 rất độc hại đối với sức khoẻ con người và sinh vật. Với nồng độ 5-10 ppm trong khí quyển, SO2 gây co thắt khí quản, khó thở. Với nồng độ cao nó có thể làm rối loạn sự chuyển hóa trong cơ thể. Còn gọi là khí sulfurơ.

54. Dưỡng chất khoáng (mineral nutrients): Những chất khoáng có tác dụng dinh dưỡng cho cơ thể người như muối khoáng hay nguyên tố vi lượng trong nước uống, thức ăn.

55. Đá chữa bệnh (healing stone): Loại đá có tác dụng chữa trị hay phòng ngừa một số bệnh tật do có chứa những nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.

56. Địa bệnh lý học (geopathology): Lĩnh vực y học nghiên cứu những bệnh tật do môi trường địa chất gây ra như bệnh nhiễm độc arsen do thừa arsen, bệnh bướu cổ do thiếu iod trong thạch quyển, thủy quyển, sinh quyển, ...

57. Địa chất y học (medical geology): Môn khoa học ghép nối giữa địa chất học và y học, chuyên nghiên cứu sự liên quan giữa môi trường địa chất với sức khoẻ, bệnh tật của con người và sinh vật (như những bệnh do thiếu vi chất dinh dưỡng hay dư thừa nguyên tố độc hại trong môi trường, những căng thẳng do tác động của các trường địa vật lý..), từ đó áp dụng các biện pháp chế ngự những tác hại (hay tận dụng những yếu tố thiên nhiên thuận lợi) nhằm bảo đảm sức khoẻ, phòng tránh bệnh tật cho con người và tăng năng suất vật nuôi cây trồng.

58. Địa dịch tễ học (geoepidemiology): Lĩnh vực y học chuyên nghiên cứu những dịch bệnh liên quan với môi trường địa chất.

59. Địa hoá sinh thái (ecological geochemistry): Khoa học ghép nối giữa địa hóa học và sinh thái học chuyên nghiên cứu ảnh hưởng của những nhân tố địa hóa của môi trường đến sức khoẻ, bệnh tật của con người và động vật cũng như sự phát triển của thực vật. Một nội dung nghiên cứu được đặc biệt quan tâm của địa sinh thái là sự dư thừa hay thiếu hụt một số nguyên tố hóa học nào đó trong môi trường ảnh hưởng đến sự sống của sinh vật. Đồng nghĩa: địa hoá môi trường (geoenvironmental geochemistry).

60. Địa lý y học (medical geography): Lĩnh vực địa lý học chuyên nghiên cứu tác động của các yếu tố địa lý đến sức khoẻ và bệnh tật của con người và động vật, trong đó có yếu tố địa chất, địa hoá.

61. Địa y học (geomedicine): Xem: địa chất y học.

62. Điểm phơi nhiễm (exposure point): Những bộ phận trên cơ thể trực tiếp chịu tác động của các yếu tố độc hại. Cùng một nguồn tác động nhưng mức độ nguy hại khác nhau tùy theo điểm tiếp xúc. Đồng nghĩa: điểm tiếp xúc.

63. Độ độc (toxicity): Mức độ gây độc của một số chất đối với cơ thể con người và sinh vật. Một số chất có thể gây ngộ độc với liều lượng rất nhỏ (như Hg, CN, phenol...), một số chất chỉ có thể gây độc với liều lượng cao, thời gian tiếp xúc kéo dài.

64. Đồng (copper - Cu): Tên Latinh: cuprum. Cu vừa là nguyên tố thiết yếu vừa là nguyên tố độc hại đối với cơ thể. Lượng nhu cầu hàng ngày theo khuyến cáo của WHO là 0,6 mg cho nam và 0,7 mg cho nữ. Cu tham gia vào sự tạo huyết, kích thích các hồng cầu sản xuất hemoglobin, tăng sức đề kháng của cơ thể chống nhiễm độc, nhiễm trùng. Đối với động vật, Cu giúp gia súc tăng sức sinh sản và mau lớn. Cu cũng cần thiết cho sự phát triển của thực vật. Thiếu Cu sẽ gây bệnh thiếu máu, rối loạn hệ thần kinh trung ương, thiểu năng tuyến giáp, hóa xơ cơ tim, hư thận, trẻ em còi xương, chậm lớn. Thực vật khi thiếu Cu lá bị đốm, xuất hiện những đường viền màu nâu, da cam. Ngược lại, khi cơ thể thừa Cu sẽ bị bệnh Wilson với các biểu hiện vàng da, xơ gan, thoái hoá thận, xuất hiện vòng Kayser-Fleischer ở mắt. Đặc biệt Cu là xúc tác cho sự thành tạo các gốc tự do nguy hiểm, phá huỷ ADN, gây đột biến gien và ung thư.

65. Đới bất tiện nghi sinh học (zone of biological discomfort): Những vùng đất mà ở đấy các thông số môi trường sống có biểu hiện dị thường so với giá trị phông, tạo nên trạng thái căng thẳng tức thời hay thường xuyên, nguy hiểm cho các cơ thể sống như vùng dị thường phóng xạ, điện từ trường, vùng ô nhiễm kim loại nặng...

66. Đới địa bệnh nguyên (geopathogenic zone): Một đới hay vùng địa lý mà con người và sinh vật sống ở đó thường mắc một hay một số bệnh ít gặp ở những nơi khác có nguyên nhân từ môi trường địa chất (thiếu vi chất dinh dưỡng, thừa nguyên tố độc hại, cường độ phóng xạ cao, có một đứt gãy sâu dẫn khí độc từ lòng đất thoát ra…). Thuật ngữ do các nhà khoa học Nga đề xuất.

67. Đường chì (lead line): Một biểu hiện của sự nhiễm độc chì dưới dạng những đường màu xanh nhạt ở chân răng, nơi tiếp xúc với lợi.

68. Đường cong liều lượng - đáp ứng (dose-response curve): Đồ thị biểu diễn quan hệ giữa tình trạng sức khoẻ bệnh tật của người và sinh vật với hàm lượng của nguyên tố hoá học trong môi trường sống, trên đó phân ra các khoảng: tối ưu (hàm lượng vừa đủ, thuận lợi và an toàn cho đời sống); thiếu hụt (dưới mức dinh dưỡng cần thiết); dư thừa (vượt mức độc hại cho phép).

69. Đường phơi nhiễm (exposure pathway, route of exposure): Con đường qua đó một yếu tố độc hại xâm nhập và tác động lên cơ thể con người và sinh vật. Cùng một yếu tố độc hại nhưng mức độ tác hại lên cơ thể không giống nhau tuỳ theo con đường tiếp xúc. Ví dụ: sự tiếp xúc chất chlorur methylen qua đường hô hấp sẽ gây ung thư, nhưng qua con đường tiêu hoá thì không hề gì.

70. Fluor (fluorine - F): F là thành phần của cơ thể sống, tập trung chủ yếu ở xương, răng, tóc, móng và tuyến nội tiết. Nó có vai trò quan trọng trong việc làm tăng độ bền của xương, răng.  Mỗi ngày cơ thể tiếp nhận từ 2 đến 5 mg F qua thức ăn, nước uống. Nếu nước uống chứa quá ít F (dưới 0,7 mg/l) thì người dễ mắc bệnh sâu răng, nhuyễn xương, loãng xương. Trái lại, nếu hàm lượng F quá cao (trên 1,4 - 2,4 mg/l tuỳ theo điều kiện khí hậu) thì cũng sinh ra các bệnh nhiễm độc fluor với các triệu chứng giòn xương, đốm men răng.

71. Hiệu ứng ngưỡng (threshold effect): Những triệu chứng xuất hiện khi cơ thể tiếp xúc với những yếu tố độc hại tới mức vượt ngưỡng cho phép.

72. Hội chứng trẻ con xanh tím (blue-baby syndrome blush coloration, methemo-globinemia infant cyanosis):  Triệu chứng nhiễm độc nitrat từ nước uống, thức ăn, gây thiếu máu, thường gặp ở trẻ con dưới 5 tuổi với những biểu hiện màu da, đặc biệt là lưỡi, lợi và các ngón chân, ngón tay xanh tím do máu bị khử ôxy, mất màu đỏ.

73. Iod (iodine - I): Nguyên tố hoá học rất cần cho cơ thể con người và động vật. Mức nhu cầu hàng ngày đối với trẻ em là 50-120 mcg; đối với người lớn là 150 mcg; đối với phụ nữ có mang và cho con bú là 200 mcg (theo khuyến cáo của WHO). Khi cơ thể không được cung cấp đủ lượng I nói trên sẽ phát sinh nhiều bệnh gọi là những rối loạn do thiếu hụt iod với các biểu hiện: bướu cổ, đần độn, trẻ em chậm lớn, câm điếc, lác mắt, liệt cơ, chết yểu, phụ nữ mang thai hay bị sảy thai. Gia súc, gia cầm được nuôi bằng các thức ăn nghèo iod thường cho năng suất kém: gà không đẻ trứng, bò không cho sữa, cừu không có lông. Tuy nhiên khi cơ thể hấp thụ quá thừa iod cũng gây ra những biến chứng như nhiễm độc giáp làm trầm trọng thêm bệnh basedow.

74. Kali (potassium - K): Tên Latinh: kalium. K cũng như Na có vai trò quan trọng trong việc duy trì nồng độ đẳng trương của tế bào nhưng K là cation chính của nội bào, còn Na là cation chính của ngoại bào. Nồng độ của chúng bên trong và bên ngoài đòi hỏi phải cân bằng để duy trì hoạt động bình thường của cơ tim. Thiếu hay thừa K đều gây loạn nhịp tim, co thắt động mạch vành. Khi K trong máu giảm sẽ xuất hiện chứng mệt mỏi, liệt cơ, suy giảm nhu động của ruột gọi chung là bệnh thiếu kali máu (hypokalaemia). Việc thiếu trầm trọng cơ thể có nguy cơ tê liệt. Thừa K có thể dẫn đến các bệnh thừa kali máu (hyperkalaemia): viêm loét thành ruột, suy thận, tim ngừng đập. K cũng rất cần thiết cho sự phát triển của thực vật: thiếu K cây chậm lớn, lá úa vàng, quả kém ngọt, hạt mất khả năng nảy mầm. Tên gọi dân gian: bồ tạt.

75. Kẽm (zinc - Zn): Nguyên tố thiết yếu cho cơ thể với nhu cầu  hàng ngày từ 5 đến 10 mg đối với trẻ em, 15 mg đối với người lớn, 16-19 mg đối với phụ nữ có thai và nuôi con bú (theo khuyến cáo của Hoa Kỳ). Zn được đưa vào cơ thể chủ yếu theo đường tiêu hóa, được hấp thụ phần lớn ở ruột non và tích luỹ ở gan. Nó tham gia vào thành phần cấu trúc của cơ thể và tác động đến hầu hết các quá trình sinh học trong cơ thể, giúp cơ thể hấp thụ và chuyển hóa các nguyên tố thiết yếu khác như Cu, Mn, Mg…, đồng thời hạn chế độc tính của Al, As, Cd..., ức chế sự oxy hóa của tế bào, tăng khả năng miễn dịch của cơ thể. Cơ thể thiếu Zn sẽ rối loạn chuyển hóa protit, phát sinh bệnh tâm thần phân liệt, thiếu máu, trẻ em chậm lớn, phụ nữ có thai đẻ non. Động vật thiếu Zn bị rụng lông, tổn thương da, gầy còm, giảm khả năng sinh sản. Ngược lại, nếu cơ thể thừa Zn sẽ ức chế miễn dịch, dễ bị nhiễm trùng, viêm loét da và hệ thống tiêu hóa.

76. Khẩu phần khuyến cáo (recommended dietary allowance - RDA): Mức khuyến cáo về hàm lượng các chất khoáng, nguyên tố vi lượng, vitamin cần có trong thức ăn, nước uống để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể hàng ngày.

77. Khí độc (poisonous gases): Những loại khí độc hại có thể gây ngạt thở, tê liệt, hay tử vong như CO, CO2, NOx, SOx, methan, ... thường tồn tại trong đất, ở đáy giếng, hầm mỏ, đặc biệt là phát thải từ những vụ phun trào núi lửa, rò rỉ từ các cơ sở công nghiệp hoá chất, bom hơi độc (trong chiến tranh)...

78. Khoáng vật dạng sợi (fibrous minerals, mineral fibers): Những khoáng vật có tinh thể kéo dài giống sợi chỉ rất mảnh như chrysotil asbest, amphibol. Chúng có sức bền lớn, chống ăn mòn và chịu nhiệt cao nên được dùng để sản xuất tấm lợp (fibro ximăng), ống nước, vải chịu nhiệt, giấy bao bì, gạch cách âm..., song trong quá trình sản xuất và sử dụng, những sợi do chúng thải vào không khí có thể gây nên bệnh nhiễm sợi asbest rất nguy hiểm.

79. Liệu pháp bức xạ (radiotherapy): Phương pháp chữa bệnh bằng các tia bức xạ (α,β,γ, tia X) phát ra từ các nguyên tố phóng xạ.

80. Liệu pháp đắp  bùn (mud therapy; pelotherapy): Phương pháp chữa bệnh bằng cách tắm ngâm trong dung dịch bùn hay chườm đắp bùn lên chỗ đau hoặc vùi ngập toàn thân. Liệu pháp bùn có tác dụng tốt đối với các bệnh da liễu, cơ khớp, tuần hoàn, thần kinh ngoại biên, một số bệnh phụ khoa…

81. Liệu pháp hang muối (salt-cave therapy, salt mine therapy, salt-cave spa): Phương pháp chữa bệnh bằng cách đưa bệnh nhân vào sống trong những hang hốc ngầm trong các mỏ muối khoáng, nguyên là những hầm lò khai thác muối đã đóng cửa hoặc được hình thành một cách tự nhiên do hoà tan - rửa lũa muối. Không khí trong hang hoàn toàn trong lành, chứa nhiều nguyên tố dinh dưỡng tạo nên một kiểu vi khí hậu có lợi cho sức khoẻ. Mỗi ngày 1-2 lần, bệnh nhân được đưa vào sống trong hang từ 45 đến 60 phút để hít thở, kết hợp các liệu pháp khác (xông hơi, ngâm tắm, uống nước muối, chườm muối nóng, xoa bóp, thể dục, ... theo hướng dẫn của bác sĩ). Liệu pháp hang muối có tác dụng tốt đối với các bệnh về đường hô hấp, tim mạch, tiêu hoá, thần kinh, xương khớp, da liễu...

82. Liệu pháp tắm-ngâm (balneotherapy): Phương pháp chữa bệnh bằng cách tắm ngâm, đặc biệt là trong nước khoáng - nước nóng thiên nhiên.

83. Lithi (lithium - Li): Nguyên tố hóa học có tác dụng an thần nên được dùng để chữa các bệnh rối loạn tâm thần, hồi hộp lo âu, trầm cảm, dễ bị kích động, dẫn đến những hành vi hung hãn, gàn dở. Li có mặt trong một số nguồn nước khoáng (nước khoáng Li) được dùng vào mục đích thuỷ trị liệu. Nhu cầu Li hàng ngày đối với cơ thể người là 200-600 mcg. Sự dư thừa Li có thể gây ngộ độc với các biểu hiện buồn nôn, chóng mặt, rối loạn thăng bằng vận động, có thể làm biến dạng thai nhi ở phụ nữ mang thai. Ngộ độc nặng có thể gây hôn mê, co giật và chết.

84. Lượng hấp thụ gây chết (lethal intake): Chất độc hại tối đa có thể gây chết nếu cơ thể hấp thụ phải, thường được tính bằng mg/ngày hoặc mcg/ngày.

85. Lượng hấp thụ hằng ngày có thể chịu được (tolerable daily intake): Hàm lượng của một chất độc hại có trong thức ăn, nước uống tác động lên một đơn vị trọng lượng cơ thể (mg/kg hay g/kg) mà con người có thể tiếp thu hàng ngày không tổn hại đến sức khoẻ.

86. Lưu huỳnh (sulfur - S): Nguyên tố thiết yếu cho động vật và thực vật. Trong cơ thể người, S tham gia vào cấu trúc một số axit amin, chủ yếu là methionin chứa nhiều trong da, lông, tóc móng. Ở đó, nó có nhiệm vụ tổng hợp glutation - chất khử độc chính cho tế bào; tham gia tạo nên lưới xương, chống oxy hóa. Nhu cầu axit amin chứa S mỗi ngày khoảng 13-14 mg/kg trọng lượng cơ thể. Nếu thiếu S thì tế bào sẽ chóng lão hóa, dẫn tới ung thư, bệnh tim mạch, đục thuỷ tinh thể mắt, thoái hóa não. ở vật nuôi thiếu S sẽ chậm tăng trưởng. S ở dạng tự sinh không độc nhưng ở dạng hợp chất (SO2, SO3, H2S, H2SO4) có tác hại đối với người và động vật. Đất chứa nhiều SO42- sẽ bị phèn hóa có hại cho cây trồng.

87. Mạch nước nóng (thermal spring, hot spring): Mạch nước thiên nhiên hình thành trong lòng đất có nhiệt độ cao hơn bình thường (quy ước trên 30oC) và chứa nhiều khoáng chất có tác dụng dược lý nên thường được sử dụng vào mục đích chữa bệnh.

88. Magnesi (magnesium - Mg): Nguyên tố thiết yếu cho cơ thể với nhu cầu hàng ngày 250-350 mg, riêng phụ nữ có thai đến 500 mg. Mg có vai trò quan trọng trong phát triển xương, cấu tạo tế bào, hoạt hóa enzym và vận hành một số hoạt động sinh lý, kích thích hoạt động của não, miễn dịch đối với viêm nhiễm, dị ứng, chống lão hóa. Đặc biệt nó có tác dụng chống căng thẳng thần kinh và duy trì sự dẻo dai cơ bắp cho các vận động viên thể thao và người lao động nặng. Khi cơ thể thiếu Mg ở mức nhẹ thì phát sinh hiện tượng bồn chồn lo lắng, tăng nhịp tim, huyết áp, tăng sự kích động các cơ, ở mức nặng thì sinh co giật (gọi là chứng "tạng co giật", "uốn ván"). Khi thừa Mg thì sinh các triệu chứng ngược lại: phản xạ kém nhạy, giảm huyết áp, chậm nhịp tim. Trong thực vật, Mg tham gia vào sự chuyển đổi năng lượng ở lá, giúp cho cây phát triển.

89. Mangan (manganese - Mn): Là nguyên tố thiết yếu cho sự sống. Mỗi ngày cơ thể cần từ 0,3 đến 2 mg đối với trẻ em và từ 2-5 mg đối với người lớn. Nó tác động đến nhiều chức năng sinh lý, tham gia cấu tạo một số enzym, giúp phát triển xương, duy trì sự cân bằng cho hoạt động của hệ thần kinh, điều hòa chức năng sinh dục. Thiếu Mn xương sẽ bị biến dạng, cơ thể chậm phát triển, chức năng sinh sản bị suy yếu, rối loạn chuyển hóa lipid và glucid gây bệnh đái tháo đường, động kinh, xơ vữa động mạch, vết thương chậm lành. Thực vật thiếu Mn sẽ bị bệnh vàng lá. Ngược lại, khi cơ thể hấp thu quá nhiều Mn sẽ bị ngộ độc với các biểu hiện suy nhược thần kinh, tăng trương lực cơ làm cho việc đi lại khó khăn, mất thăng bằng, trí nhớ giảm sút, rối loạn tâm thần, xuất hiện ảo giác dẫn đến những hành động điên dại. Khi hít thở không khí bị ô nhiễm Mn sẽ bị bệnh viêm phổi, bụi phổi.

90. Mất cân bằng dinh dưỡng (nutritional imbalance): Tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng từ thức ăn, nước uống hoặc không đảm bảo tỷ lệ hợp lý giữa các nhóm, các cặp nguyên tố thiết yếu, gây ra sự mất cân bằng trong chế độ dinh dưỡng và là nguyên nhân gây bệnh tật.

91. Molybden (molybdenum - Mo): Nguyên tố thiết yếu cho cơ thể với nhu cầu hàng ngày từ 15 đến 75 mcg đối với trẻ em và từ 75 đến 250 mcg đối với người lớn. Nó có vai trò tác động đến nhiều quá trình chuyển hóa giúp cố định F trong men răng, kích thích sự hấp thụ Fe của ruột và sản xuất tế bào máu. Mo cũng có vai trò quan trọng trong các phản ứng giải độc. Ở gia súc, gia cầm, sự thiếu Mo cũng sẽ gây ức chế tăng trưởng, tăng tỷ lệ chết của mẹ và con khi sinh đẻ. ở thực vật Mo có vai trò cố định đạm của rễ. Khi thiếu Mo cây bị vàng lá, giảm ra hoa.

92. Monoxit carbon  (carbon monoxide - CO): Chất khí không màu, không mùi, tỷ trọng 1,25 g/l, nhiệt độ sôi -191,5oC, sản phẩm đốt cháy không hoàn toàn các nhiên liệu hóa thạch như than, dầu và một số chất hữu cơ khác, là một khí độc do có khả năng kết hợp với hemoglobin trong máu để tạo thành carboxyhemoglobin ngăn cản sự hấp thụ oxy của máu. Khi con người tiếp xúc với CO qua đường hô hấp với nồng độ thấp (10-250 ppm) sẽ phát sinh các triệu chứng khó thở, đau đầu, buồn nôn, chóng mặt, mệt mỏi, chức năng vận động cơ bắp suy giảm, còn với nồng độ cao (250-750 ppm) thì hôn mê bất tỉnh, và khi nồng độ rất cao (750-1.000 ppm) thì tử vong sau vài giờ hay tức thời.

93. Muối liếm (salt lick): Một khối vật liệu hỗn hợp làm thức ăn gia súc gồm cám, khô dầu, rỉ mật, bột xương… pha trộn với những khoáng chất như muối ăn, Ca, P, Mg, Mn, Fe, I, Zn, Cu… theo tỷ lệ thích hợp, được đóng khuôn và đặt trong trại chăn nuôi cho gia súc thỉnh thoảng đến liếm nhằm bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể, giúp vật nuôi chóng lớn, khoẻ mạnh, năng suất cao, phòng tránh được bệnh tật.

94. Nạn đói tiềm ẩn (hidden hunger): Khái niệm chỉ sự thiếu hụt vitamin và vi chất dinh dưỡng trong chế độ ăn uống. Tình trạng đói tiềm ẩn không gây cảm giác rõ rệt như cơn đói sinh lý thông thường (không có biểu hiện cồn cào, thèm ăn...) mà diễn ra từ từ, trong thời gian dài, chỉ khi đạt tới mức độ nặng mới bộc lộ thành căn bệnh thiếu hụt như bệnh thiếu máu do thiếu sắt, bướu cổ và đần độn do thiếu iod; sâu răng, loãng xương do thiếu fluor, khô mắt do thiếu vitamin A trong khẩu phần ăn....Tính chất tiềm ẩn của sự đói vi chất dinh dưỡng dễ khiến cho người ta không thấy hết mối nguy hiểm của nó nên tác hại càng lớn.

95. Natri (sodium - Na): Tên La tinh natrium. Nguyên tố thiết yếu đối với cơ thể với nhu cầu 4-6 g/ngày. Nó cùng với K (chứa trong dịch nội bào) đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì nồng độ đẳng trương của tế bào. Khi cơ thể thiếu Na sẽ xuất hiện các triệu chứng khô miệng, chán ăn, mệt mỏi, tim đập nhanh, hạ huyết áp, da nhăn nheo. Thiếu nặng có thể dẫn đến hôn mê, tử vong. Ngược lại, khi thừa Na sẽ phát sinh phù nề, cao huyết áp, suy tim, thận. Sự có mặt Na với hàm lượng cao trong đất, nước không thuận lợi cho sự phát triển của thực vật.

96. Nguyên nhân học (aetiology, etiology): Trong y học - là lĩnh vực khoa học nghiên cứu nguyên nhân của bệnh tật. ứng dụng vào địa chất y họcđịa hoá môi trường, nguyên nhân học có nhiệm vụ tìm hiểu căn nguyên của những bệnh tật liên quan với môi trường địa chất nơi sinh sống, như bệnh rối loạn do thiếu iod, bệnh thiếu máu do thiếu sắt, bệnh giòn xương do thừa fluor, bệnh nhiễm độc arsen do nước uống chứa quá nhiều As... Nhờ biết được nguyên nhân, y học áp dụng các biện pháp phòng ngừa, chế ngự hữu hiệu, tận gốc, ngay từ khi bệnh chưa phát sinh hay mới phát.

97. Nguyên tố có tiềm năng độc hại (potentially harmful elements - PHEs): Những nguyên tố hoá học có thể gây độc hại cho cơ thể người và sinh vật (gây bệnh tật, dị dạng, kém phát triển, tử vong...) như As, Cd, Pb, Hg, U, Ra, Rn...

98. Nguyên tố dinh dưỡng đa lượng (macronutrients, macronutrient elements): Nguyên tố hoá học cần cho sự sống của con người và sinh vật với lượng lớn. Đối với cơ thể người thì đó là những chất khoáng như Ca, P, Na, Ca, Cl, Mg... với nhu cầu hàng ngày tới hàng trăm, hàng ngàn mg.

99. Nguyên tố không thiết yếu (non-essential elements):  Những nguyên tố không có vai trò gì trong cơ thể sinh vật (không có tác dụng dinh dưỡng, cũng không độc hại). Chúng xâm nhập vào cơ thể theo thức ăn, nước uống một cách tình cờ và tồn tại ở đấy tạm thời hay lâu dài. Phần lớn chúng là những nguyên tố vết và vi lượng như Au, Ag, Ti, Zr, W, Ge...

100. Nguyên tố thiết yếu (essential elements - EEs): Những nguyên tố cần thiết đảm bảo cho hoạt động chính xác của quá trình chuyển hóa trong cơ thể động vật và thực vật với liều lượng cực nhỏ như Cu, Zn, B, Mo, Mn, Co, I, F, Se.

101. Nguyên tố dinh dưỡng vi lượng (micronutrients,  micronutrient elements): Những nguyên tố cần cho sự sống của con người và sinh vật với một lượng rất nhỏ (từ một vài chục mcg/ngày đến một vài chục mg/ngày) như Fe, Cu, Zn, Mn, B, Mo, Co, I, Se, Cr, F, Sn, Ni, V, Si… Tuy nhu cầu rất ít như vậy, nhưng nếu cơ thể không được cấp đầy đủ thì sẽ sinh chứng suy dinh dưỡng và nhiều bệnh khác. Đồng nghĩa: vi chất dinh dưỡng.

102. Nguyên tố vết (trace element): 1. Nguyên tố có mặt với hàm lượng rất nhỏ trong tế bào động vật hay thực vật. Đó có thể là nguyên tố thiết yếu hay nguyên tố độc hại cho cơ thể. Cũng có thể là nguyên tố có mặt một cách ngẫu nhiên, không có một vai trò sinh lý hoặc sinh học nào (hoặc chưa biết rõ tác dụng của nó). 2. Nguyên tố hoà tan trong nước với hàm lượng rất nhỏ mà với độ nhạy của phương pháp phân tích không cho biết hàm lượng một cách chính xác nên chỉ quy ước là dưới 1 mcg/l.

103. Nguyên lý Paracelsus (Paracelsus’ principle): Một nguyên lý y học do nhà y học và giả kim Thuỵ Sĩ Paracelsus (1493-1541) đề xuất vào đầu thế kỷ 16, được phát biểu bằng câu nói nổi tiếng “Độc tố có ở khắp mọi  vật và không nơi nào là không có độc tố. Tùy theo liều lượng, một chất có thể vừa là chất độc vừa là thuốc chữa bệnh”. Với nhận thức đó, Paracelsus đã bác bỏ trường phái y học đương thời xem “mọi bệnh tật đều do sự mất cân bằng giữa các chất dịch trong cơ thể nên chúng chỉ có thể chữa trị bằng cách chích máu và tẩy ruột”, và từ quan điểm trái ngược, ông cho rằng bệnh tật không phát sinh từ bên trong mà tấn công từ bên ngoài (nghĩa là từ môi trường sống – theo cách hiểu ngày nay) ông đã chế tạo ra các loại thuốc bằng khoáng chất để chữa bệnh và phòng bệnh. Nguyên lý Paracelsus được xem là cuộc cách mạng trong y học, mở ra một phương hướng trị liệu mới, tiến bộ, gắn liền sự sống của con người với môi trường xung quanh. (Paracelsus còn có các tên khác là Philippus Aureobus, Theophrastus Bombastus Von Hohenheim).

104. Ngưỡng độc (toxic threshold): Nồng độ giới hạn của một chất độc mà khi cơ thể tiếp xúc vượt quá sẽ bị mắc bệnh hoặc tử vong.

105. Ngưỡng phơi nhiễm (exposure threshold): Giới hạn tối đa về hàm lượng, cường độ của một yếu tố độc hại trong môi trường (như bụi bặm, hoá chất độc, tia phóng xạ, tiếng ồn, mùi xú uế…) mà cơ thể con người không được tiếp xúc vượt quá để khỏi bị tổn hại đến sức khoẻ, mắc bệnh hoặc tử vong.

106. Nhà điều dưỡng nước khoáng (spa, spa sanatorium): Một cơ sở chữa bệnh hay chăm sóc sức khoẻ bằng nguồn nước khoáng thiên nhiên.

107. Nhiễm bụi bary (baritosis): Một dạng của bệnh bụi phổi do hít thở không khí bị ô nhiễm bởi Ba.

108. Nhiễm bụi silic (silicosis): Một bệnh về đường hô hấp do hít thở không khí ô nhiễm bởi silic (SiO2) trong thời gian dài. Bệnh có các biểu hiện: viêm đường hô hấp, khó thở, hơi thở gấp, có thể ung thư màng phổi.

109. Nhiễm độc arsen (arsenicosis, arsenism, arseniasis, arsenocosis, arseniasis, arseniconiosis, arsenoconiosis, arsenic poisoning): Những bệnh do tiếp xúc, hấp thụ nguyên tố có tính độc cao As quá liều lượng cho phép qua đường hô hấp, ăn uống và có thể qua da. Những biểu hiện nhiễm độc cấp tính là nôn mửa, đau bụng dữ dội, tiêu chảy ra máu. Bệnh nhân chết nhanh chóng do mất nước và rối loạn điện giải. Sự nhiễm độc As mãn tính xảy ra chủ yếu do nước uống bị ô nhiễm arsen với các biểu hiện: đau bụng thường xuyên, ngứa, đau khớp, viêm lợi, họng, giảm hoặc mất phản xạ, liệt chi, sạm da (melanosis), dày biểu bì (keratosis), rụng lông, tóc... ở mức nặng có thể tổn thương gan, thận, ung thư.

110. Nhiễm độc bạc (argyria, argyriosis, argyrism, silver poisoning): Sự nhiễm độc do cơ thể hấp thu quá nhiều bạc từ nước uống, thức ăn (nhất là cá biển) và không khí hít thở. Nó thường tích tụ ở da, mắt và các mô cơ, khiến cho da bị bội nhiễm sắc tố xanh đen, mắt bị viêm kết mạc, niêm mạc miệng đổi thành màu sẫm. Các cơ quan nội tạng cũng có thể bị ảnh hưởng.

111. Nhiễm độc chì (lead poisoning, plumbism, saturnism): Xem: chì.

112. Nhiễm độc fluor (fluorosis): Thuật ngữ dùng để gọi chung những bệnh về xương, răng do cơ thể tiếp thu fluor quá giới hạn cho phép như bệnh giòn xương, sứt mẻ răng, đốm men răng. Bệnh thường gặp ở những vùng mà nước uống, thức ăn chứa quá nhiều fluor một cách tự nhiên (các vùng có mỏ apatit, fluorit, có những nguồn nước khoáng giàu F) hoặc do tác động nhân tạo (fluor hóa nước uống, kem đánh răng quá mức…).

113. Nhiễm độc sắt (siderosis): Xem: sắt.

114. Nhiễm độc thủy ngân (hydrargyrosis, hydrargyria, hydrargyrism, mercurialism, mercury poisoning): Sự nhiễm độc do tiếp xúc với thuỷ ngân quá liều lượng an toàn. Độ độc hại của Hg tuỳ thuộc vào dạng tồn tại của nó. ở dạng nguyên tử, Hg không độc, khi vào cơ thể, qua đường tiêu hóa, nó dễ bị đào thải ra ngoài nên không gây tác hại. Nhưng Hg dưới dạng hơi thì rất độc, khi hít vào phổi, nó nhanh chóng xâm nhập vào máu, phá huỷ hệ thống thần kinh trung ương. Một hợp chất độc hại hàng đầu của Hg là methyl thuỷ ngân (CH3Hg+) do có tính hoà tan tốt trong mỡ, mô tế bào và tồn tại lâu dài ở đó. Những biểu hiện của sự nhiễm độc thuỷ ngân ở mức nhẹ thì rối loạn tiêu hóa, ăn kém ngon, rung từng cơn, từng nhóm cơ, viêm lợi, loét niêm mạc miệng, ở mức nặng thì suy giảm trí nhớ, rối loạn thần kinh thực vật, phụ nữ sảy thai, ở mức trầm trọng thì có thể tử vong.

115. Nhiễm độc tuyến giáp (thyrotoxicosis): Một chứng bệnh phát sinh do sử dụng iod vượt mức cần thiết (ngược lại các bệnh rối loạn do thiếu hụt iod) làm cường năng tuyến giáp, tiết ra quá nhiều hooc môn giáp (thyroxin) gây độc cho cơ thể, sinh ra bướu cổ độc lan toả với các triệu chứng điển hình: lồi mắt, mạch nhanh, run tay, sút cân, da nóng và ẩm. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh sẽ biến chứng vào tim, gây tử vong. Bệnh còn được gọi là basedow theo tên của bác sĩ người Đức K. Basedow - người đầu tiên đã nghiên cứu nó một cách chi tiết. Ở Anh, Mỹ người ta gọi bệnh này là graves  hay parry - theo tên hai thầy thuốc cũng phát hiện ra bệnh này cùng thời điểm với Basedow.

116. Nhiễm sợi asbest (asbestosis, asbestos-related disease): Một loại bệnh về đường hô hấp do hít thở không khí chứa nhiều bụi asbest trong thời gian dài. Đây là một bệnh nghề nghiệp thường gặp ở những công nhân làm việc trong các cơ sở công nghiệp có dùng vật liệu asbest (amiăng) để sản xuất tấm lợp, ống nước, vải chịu nhiệt, giấy bao bì, gạch cách âm, ... Do asbest là khoáng vật dạng sợi nên trong quá trình sản xuất nhiều bụi dạng sợi nhỏ được thải vào không khí. Khi hít vào phổi, những sợi này tích tụ trong phế nang, khiến cho phổi mất khả năng trao đổi oxy và gây bệnh khó thở, ung thư.

117. Nhôm (aluminium - Al): Al được dùng trong các ngành công nghiệp chế tạo máy bay, hợp kim, điện, luyện kim, cơ khí vận tải, đồ dùng nội thất, vật liệu mài, xử lý nước... Nó xâm nhập vào cơ thể theo thức ăn, nước uống và không khí hít thở. Khi liều lượng hấp thụ vượt quá giới hạn cho phép (0,2 mg/l đối với nước uống; 0,002 mg/l đối với không khí tại nơi làm việc) thì nó gây tác hại đến não, làm giảm trí nhớ, có thể dẫn đến bệnh Alzheimer, nhiễm độc Al.

118. Nhu cầu dinh dưỡng (nutrient requirement): Số lượng các chất dinh dưỡng thiết yếu (kể cả chất khoáng) mà cơ thể sinh vật cần được cung cấp để duy trì sự sống bình thường. Nếu thiếu, sinh vật sẽ còi cọc, phát triển không bình thường hoặc mắc bệnh.

119. Nickel (nickel - Ni): Nguyên tố thiết yếu cho cơ thể với nhu cầu khoảng 300-600 mcg/ngày. Nó tham gia vào quá trình chuyển hóa chất và tăng trưởng cơ thể. Thiếu Ni gia súc chậm lớn. Tuy nhiên, Ni đồng thời cũng là chất độc. Khi cơ thể hấp thụ quá liều trong thời gian dài có thể bị nhiễm độc với các biểu hiện chán ăn, sút cân, viêm da, tổn thương tim, gan, thận, đường hô hấp, có thể bị ung thư. Còn gọi là kền.

120. Nitơ (nitrogen): Nguyên tố thiết yếu cho sự sống, là thành phần quan trọng nhất của tế bào sống (protein và axit nucleic), chiếm 5,14% trọng lượng cơ thể người. N ở dạng phân tử (N2) không độc nhưng ở dạng hợp chất NO-, NO2-, NO3-, NH4+, CN- thì có độc tính, có thể gây chết người ở liều lượng lớn.

121. Nồng độ gây bệnh tới hạn (critical sickness concentration): Liều lượng một chất độc mà khi cơ thể tiếp xúc với nó thì có thể bị mắc bệnh nhưng chưa đến mức tử vong.

122. Nước khoáng (mineral water): Loại nước thiên nhiên dưới đất, được hình thành trong những điều kiện đặc biệt, ít chịu ảnh hưởng của những tác động ngoại sinh (tự nhiên hay nhân tạo) có một hoặc một số tính chất khác biệt với nước thông thường như: độ khoáng hóa cao, chứa các ion, nguyên tố vi lượng, hợp chất vô cơ, khí tự nhiên với hàm lượng lớn, nhiệt độ, tính phóng xạ cao, có hoạt tính sinh học nên có giá trị chữa bệnh hay có lợi cho sức khoẻ con người.

123. Ô nhiễm thuỷ ngân (mercury pollution): Sự ô nhiễm môi trường bởi Hg dưới dạng hơi hoặc hợp chất hữu cơ và vô cơ.

124. Ô nhiễm arsen (arsenic pollution): Sự ô nhiễm do arsen tích tụ trong môi trường với nồng độ vượt mức chấp nhận.

125. Phân vùng địa chất y học (medico-geological zoning, geomedical zoning): Sự phân chia trên bản đồ những vùng (đới, khu…) có các đặc điểm khác nhau về mặt địa chất y học. Ví dụ những vùng đất, nước dưới đất bị ô nhiễm As, Fe, Hg, kim loại nặng - hay thiếu hụt I, F, Ca, vùng dị thường phóng xạ, … Bản đồ được dùng vào việc lập quy hoạch phát triển kinh tế, bố trí địa bàn dân cư nhằm tránh những nơi có điều kiện địa chất bất lợi cho sức khoẻ con người và sự phát triển của vật nuôi, cây trồng.

126. Phenol (phenol): Một hợp chất thơm ở thể rắn, kết tinh hay lỏng, có mùi đặc trưng và tính axit yếu. Nó có độc tính đối với cơ thể sinh vật, có khả năng gây viêm da, niêm mạc, rối loạn chuyển hóa, nhiễm độc gan, thận. Những biểu hiện của sự nhiễm độc phenol là: ở mức nhẹ thì mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, chán ăn, gầy sút nhanh; ở mức nặng thì co giật, hôn mê, rối loạn tuần hoàn, hô hấp, viêm gan, thận, đái ra huyết cầu tố... Các tên khác: axit carbolic, oxybenzen.

127. Phosphor (phosphorus- P): Một trong số các nguyên tố có nhiều nhất trong cơ thể. ở người lớn nặng 70 kg thì có 700 g là P, trong đó 80% tập trung ở bộ xương, 10% ở cơ, 10% ở các mô mềm. P tham gia vào cấu trúc của xương cùng với Ca dưới dạng phosphat tricalci. Mức khuyến cáo về nhu cầu P hàng ngày là từ 400 đến 1000 mg tùy theo lứa tuổi. P còn tham gia vào nhiều enzym oxy hóa, giúp cho thức ăn bị “đốt” trong cơ thể để tạo ra năng lượng. P cũng là vi chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của thực vật. Khi cơ thể không được cung cấp đầy đủ phosphor sẽ mắc các bệnh thiếu phosphat máu (hypophosphatemia). Tuy nhiên sự dư thừa trong cơ thể sẽ gây ra chứng thừa phosphat máu (hyperphosphatemia) làm giảm khả năng hấp thụ Ca, dẫn đến nguy cơ loãng xương. Nước hồ ao quá giàu P (trên 0,01 mg/l) sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng (eutrophication), trở ngại cho sự sống của các loài thuỷ sinh, là mối đe dọa đối với môi trường. Còn gọi là lân tinh.

128. Radi (radium - Ra): Nguyên tố phóng xạ, con của urani, có 30 đồng vị, trong đó bền nhất là 226Ra có chu kỳ bán huỷ 1590 năm. Ra là nguyên tố phóng xạ đầu tiên được dùng trong y học để chữa trị ung thư. Nước ngầm chứa Ra được xem là nước khoáng chữa bệnh. Tuy nhiên do đặc tính phóng xạ cao có thể gây các bệnh nhiễm xạ nguy hiểm nên việc sử dụng nó phải tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định của thầy thuốc.

129. Radon (radon - Rn): Nguyên tố phóng xạ, con của Ra, là loại khí trơ phổ biến trong không khí và nước, có 30 đồng vị, trong đó bền nhất là 222Rn với chu kỳ bán huỷ 3,824 ngày. Tia α do Rn và các con cháu của nó phát ra có khả năng ion hoá các nguyên tử và phân tử vật chất xung quanh và xuyên qua da người, xâm nhập vào tế bào, kích thích các hoạt động chức năng nhờ đó tăng cường khả năng tự bảo vệ của cơ thể, chống đỡ bệnh tật. Nước khoáng chứa nhiều Rn có tác dụng chữa các bệnh cơ khớp, da liễu, thần kinh, tuần hoàn, tiêu hoá. Tuy nhiên nếu bị phơi nhiễm với liều lượng quá giới hạn cho phép nó có thể nguy hiểm đối với sức khoẻ (gây bệnh nhiễm xạ) nên việc sử dụng phải theo chỉ định của thầy thuốc.

130. Răng nhiễm độc fluor (dental fluorosis): Một chứng bệnh về răng do cơ thể hấp thu quá nhiều fluor, chủ yếu từ nước uống nhiễm fluor với các biểu hiện: răng bị hoen ố, đen xỉn (do men răng bị huỷ hoại), xiêu vẹo, sứt mẻ...

131. Rối loạn do thiếu hụt iod (iodine-deficiency disorders - IDD): Các rối loạn chức năng sinh lý ở người và động vật do sống trong môi trường thiếu iod (do đó thức ăn nước uống cũng rất nghèo iod) biểu hiện bằng một số bệnh đặc thù, trong đó rõ rệt nhất là bệnh bướu cổ, đần độn. Ngoài ra còn có những biểu hiện khác như phụ nữ mang thai hay bị sẩy, trẻ em chậm lớn, lùn, câm điếc, lác mắt; bò cái không có sữa, gà vịt không đẻ trứng, cừu không có lông...

132. Sắt (iron - Fe): Nguyên tố hóa học thiết yếu cho sự sống. Mỗi ngày cơ thể cần 6-10 mg đối với trẻ em, 10-15 mg đối với người lớn, tới 45 mg đối với phụ nữ có thai (theo khuyến cáo của Hoa Kỳ). Fe tham gia cấu tạo hemoglobin và myoglobin trong máu, có chức năng vận chuyển oxy từ phổi đến các cơ quan và đưa CO2 theo chiều ngược lại để thải ra ngoài. Cơ thể thiếu Fe sẽ mắc bệnh thiếu máu, với các biểu hiện: giảm hồng cầu nên da xanh xao, suy dinh dưỡng, giảm thể lực, khả năng miễn dịch kém, trẻ em chậm phát triển trí tuệ, phụ nữ có thai dễ bị đẻ non, tỷ lệ tử vong tăng ở cả mẹ và con. Fe cũng rất cần cho sự phát triển của cây trồng. Ngược lại, cơ thể thừa Fe sẽ có nguy cơ nhiễm độc sắt (siderosis), bị mắc bệnh tim mạch, viêm gan, Parkinson, viêm đa khớp, rối loạn hoạt động não dẫn đến bệnh Alzheimer...

133. Selen (selenium - Se): Nguyên tố thiết yếu cho cơ thể sinh vật với nhu cầu hàng ngày 50-200 mcg (theo khuyến cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ). Khi cơ thể thiếu Se sẽ phát sinh các bệnh cơ tim gọi là bệnh Keshan, ung thư. Ngược lại khi thừa Se cũng xuất hiện các chứng mệt mỏi, nôn mửa, chán ăn, suy nhược cơ thể và ở mức nặng có thể chết. Gia súc khi bị nhiễm độc Se sẽ  có các biểu hiện tăng trưởng chậm, xơ gan, móng guốc biến dạng và bị một thứ bệnh gọi là "mù loạng choạng".

134. Silic (silicon - Si): Nguyên tố thiết yếu cho sinh vật. Nhu cầu Si hàng ngày đối với cơ thể người là khoảng 20-50 mg. Nó tham gia vào quá trình tạo xương và tăng tính bền vững cho vỏ bọc các mô liên kết. Nó cũng có tác dụng chống độc, ngăn cản nhôm đi vào não và xương. Loại nước khoáng chứa nhiều Si giúp làm mau lành vết thương, viêm loét dạ dày, cơ quan sinh dục nữ, bệnh da liễu… Tuy nhiên, khi cơ thể tiếp thu quá nhiều Si có thể gây sỏi thận. Những người làm việc lâu ngày trong môi trường ô nhiễm bởi bụi silic với mức trên 0,1 mg/m3 như công nhân làm đường, khai thác đá, … thường bị  nhiễm độc silic, còn gọi là bệnh bụi phổi – một bệnh nguy hiểm mà đến nay chưa có phương pháp điều trị.

135. Stronti (strontium - Sr): Nguyên tố độc hại, đặc biệt đồng vị phóng xạ 90Sr rất nguy hiểm cho con người và động vật vì tia β do nó phóng ra gây tổn hại cho xương. Một căn bệnh địa phương điển hình cho sự nhiễm độc Sr từ nước uống thường được nhắc đến là bệnh Urov (hay Kashin-Beck).

136. Sulfur hydro (hydrogen sulfide - H2S): Chất khí không màu, có mùi “trứng thối” được hình thành do hoạt động núi lửa và do sự phân huỷ các chất hữu cơ chứa lưu huỳnh bởi các vi khuẩn khử sulfat. H2S cũng là sản phẩm thứ cấp của một số ngành công nghiệp: sản xuất than cốc, tinh chế dầu thô chứa lưu huỳnh, sản xuất bột giấy, ... H2S là chất khí độc, với nồng độ 15-30 mg/m3 trong không khí nó kích thích mắt, khó thở. Với nồng độ cao 1500-3000 mg/m3 nó kìm hãm hoạt động hô hấp, gây tử vong.

137. Tật đầu gối chụm (genu valgum, genu varus, knock-knee): Một khuyết tật về xương 2 chi dưới ở người với biểu hiện: lúc bước đi, đôi chân không thẳng đứng mà 2 đầu gối chụm vào, có lúc cụng nhau, còn 2 bàn chân thì giãn ra xa nhau nên tiếng dân gian gọi là "chân chữ bát" hay "đầu gối đánh lửa". Nguyên nhân là do cơ thể bị nhiễm độc fluor

138. Tật đầu gối khuỳnh (genu varum, bow legs): Một khuyết tật về xương 2 chi dưới ở người với biểu hiện: lúc bước đi, đôi chân không thẳng đứng mà 2 đầu gối khuỳnh ra, còn hai bàn chân thì chụm vào nhau nên tiếng dân gian gọi là "chân vòng kiềng" (ngược lại tật "đầu gối chụm"). Nguyên nhân là do cơ thể bị nhiễm độc fluor.

139. Thuỷ liệu pháp (hydrotherapy): Phương pháp chữa bệnh bằng nước (uống, tắm, ngâm, súc rửa, xông hít bằng nước khoáng, nước nóng). Đồng nghĩa: thuỷ trị liệu.

140. Thuỷ ngân (mercury, quick silver - Hg): Tên La tinh: hydrargyrum - là nguyên tố rất độc, nhất là ở dạng hơi và dạng ion Hg+. Ở liều lượng tháp (<0,03 mcg), nó có tác dụng giúp cơ thể tăng cường khả năng miễn dịch. Nhưng với liều lượng cao, Hg rất nguy hiểm. Sự nhiễm độc Hg có thể theo những con đường khác nhau: qua da, đường hô hấp, tiêu hóa. Những triệu chứng nhiễm độc Hg là: ở giai đoạn đầu – ăn kém ngon, rối loạn tiêu hóa, run cơ, viêm loét niêm mạc miệng. ở các giai đoạn tiếp theo có thể xuất hiện protein niệu nhẹ, rối loạn thần kinh thực vật, giảm sút trí nhớ, bệnh Parkinson. Phụ nữ bị nhiễm độc Hg có thể bị sẩy thai, sinh con gầy còm.

141. Thực phẩm chức năng (functional food): Những thực phẩm chế biến hay thiên nhiên chứa những chất dinh dưỡng hoặc nguyên tố thiết yếu cho cơ thể, được dùng vừa làm thức ăn, vừa có tác dụng tăng cường sức khoẻ, phòng ngừa bệnh tật do thiếu chất.

142. Tính khả dụng sinh học (bioavailability): Khả năng của một chất dinh dưỡng (dược phẩm) hay độc hại tác động lên cơ thể sinh vật khi tiếp xúc. Cùng một chất dinh dưỡng (hay một loại dược phẩm) nhưng tác dụng có thể không giống nhau đối với các cơ thể khác nhau, tuỳ thuộc vào tính khả dụng sinh học của nó. Cũng vậy, một chất được xem là độc hại, nhưng nếu nó tồn tại dưới dạng không có tính khả dụng sinh học thì có thể không ảnh hưởng gì hoặc chỉ có tác hại nhẹ đối với sức khoẻ. Tính khả dụng sinh học của một chất được quyết định chủ yếu bởi: 1) bản chất, dạng tồn tại của nó; 2) bản chất của cơ thể sinh vật bị phơi nhiễm; 3) phương thức phơi nhiễm (vị trí, đường phơi nhiễm, số lượng, thời lượng phơi nhiễm ...); 4) sự có mặt đồng thời trong môi trường các chất cộng hưởng (làm gia tăng sức hấp thụ) hay cản trở (giảm thiểu hay triệt tiêu sức hấp thụ).

143. Tỷ suất Ca/P (Ca/P ratio): Tỷ lệ giữa hàm lượng Ca và P trong thức ăn, nước uống mà con người và động vật hấp thụ hàng ngày. Xương được cấu thành chủ yếu (tới 70%) bởi Ca và P dưới dạng hydroxyl apatit Ca5(PO4)3(H2O). Trong điều kiện bình thường tỷ lệ Ca/P trong xương là khoảng 2/1. Nhưng nếu cơ thể hấp thu từ thực phẩm nhiều P mà ít Ca thì Ca trong xương phải hoà tan để duy trì tỷ lệ cần thiết 2/1. Ngược lại, nếu cơ thể hấp thụ nhiều Ca mà ít P thì P trong xương phải hoà tan cũng để duy trì tỷ lệ trên. Cả hai trường hợp đều làm cho thành phần apatit trong xương không còn duy trì trạng thái nguyên thuỷ, dẫn đến bệnh xốp xương (dễ gãy).

144. Tỷ suất Cu/Mo (Cu/Mo ratio): Tỷ lệ giữa hàm lượng Cu và Mo trong thức ăn, nước uống mà con người và động vật hấp thụ hàng ngày. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy giữa Cu và Mo có mối quan hệ tương hỗ về mặt sinh học. Khi cặp nguyên tố này được hấp thụ với tỷ lệ cân bằng Cu/Mo = 2/1 thì cơ thể phát triển bình thường, nhưng nếu tỷ lệ này bị lệch về bên này hay bên kia, chẳng hạn khi hàm lượng Mo quá lớn thì nó cản trở sự hấp thụ Cu là nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho sự chuyển hóa trong tuyến dạ dày – đường ruột và càng làm cho sự nhiễm độc Mo thêm trầm trọng, gây ỉa chảy, trụy tim, hôn mê ở người, bệnh mất điều hòa địa phương ở cừu, ... Vì vậy trong chế độ dinh dưỡng phải bảo đảm sự cân bằng giữa hai nguyên tố Cu và Mo.

145. Urani (uranium - U): Nguyên tố cực kỳ độc hại cả về mặt hóa học lẫn mặt phóng xạ do có khả năng gây nhiều bệnh hiểm nghèo, đặc biệt là các bệnh máu trắng, ung thư, sinh quái thai, dị dạng, … Vì vậy, tiêu chuẩn an toàn vệ sinh phóng xạ có những quy định rất chặt chẽ để phòng tránh tai họa đối với sức khoẻ cộng đồng cũng như những người làm việc trực tiếp với phóng xạ.

146. Vanadi (vanadium - V): Nguyên tố cần thiết cho cơ thể người và động vật với nhu cầu hàng ngày khoảng 10 mcg. V tác động lên nhiều quá trình chuyển hóa, tham gia vào quá trình hình thành và phát triển mô xương, kích thích tăng trưởng, điều hoà cholesterol trong máu, giúp phòng ngừa bệnh tim mạch. Nước uống chứa V có tác dụng ngăn ngừa sâu răng (giống như F). Tuy nhiên V cũng là nguyên tố có độc tính. Khi cơ thể hấp thụ V với liều lượng cao có thể bị ngộ độc, gây rối loạn thần kinh, và đường tiêu hóa, hô hấp, thiếu máu, giảm bạch cầu. Một biểu hiện trực quan của sự nhiễm độc V là lưỡi có màu xanh.

147. Vòng Kayser-Fleischer (Kayer-Fleischer ring): Một vòng màu vàng - nâu nhạt xuất hiện ở vành ngoài của giác mạc mắt – biểu hiện của sự tích tụ Cu khi cơ thể tiếp xúc với nguyên tố này quá liều lượng và bị nhiễm độc. Đây là triệu chứng chẩn đoán bệnh Wilson.

148. Xương nhiễm độc fluor (skeletal fluorosis): Một chứng bệnh về xương người và động vật do sử dụng nước uống chứa quá nhiều fluor với các biểu hiện: xương cong vẹo, giòn, dễ gãy.

149. Y học chức năng (functional medicine): Lĩnh vực y học chuyên nghiên cứu mối liên hệ giữa một số bệnh mãn tính với sự mất cân bằng và thiếu hụt dinh dưỡng nhằm tìm ra nguyên nhân gây bệnh để ngăn chặn từ gốc (không đợi đến khi xuất hiện triệu chứng trên cơ thể mới chữa trị). Y học chức năng dựa trên những xét nghiệm về máu, nước tiểu, phân, lông, tóc, móng tay... và quan sát những biểu hiện dị thường ở một số bộ phận cơ thể như răng, da... để chẩn đoán sự thiếu hụt dinh dưỡng hay sự tích luỹ độc chất có thể dẫn đến bệnh tật. Từ đó áp dụng những biện pháp phòng ngừa, trong đó có việc sử dụng những thực phẩm chức năng để bổ sung những chất dinh dưỡng hoặc nguyên tố thiết yếu cho cơ thể.

150. Y học sinh thái (ecological medicine): Một y thuyết mới xem cơ thể con người là một bộ phận không thể tách rời của môi trường xung quanh, sức khoẻ và môi trường hoà quyện với nhau, vì vậy, việc chăm sóc sức khoẻ con người phải đi đôi với việc bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.