CẤU
TRÚC ĐỊA CHẤT VÙNG VEN BIỂN VÀ BIỂN VEN BỜ TỈNH
SÓC TRĂNG VÀ CÁC VÙNG PHỤ CẬN
THEO TÀI LIỆU ĐỊA VẬT LÝ
NGÔ
THANH THUỶ1, TRẦN TRỌNG THỊNH1,
NGUYỄN TÀI THINH2
1Trung tâm Địa chất và
Khoáng sản Biển, 125 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội
2Hội
KHKT Địa vật lý Việt Nam, 83 Hoàng Quốc
Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
Tóm tắt: Kết quả
xử lý, phân tích và tổng hợp tài liệu địa
vật lý và các tài liệu khác đã làm sáng tỏ
đặc điểm các hệ thống đứt gãy và
cấu trúc khu vực ven biển và biển ven bờ
tỉnh Sóc Trăng và các vùng phụ cận:
Hệ
thống đứt gãy rất phức tạp với 3
hệ thống chính là ĐB-TN, TB-ĐN và á kinh tuyến,
trong đó đứt gãy Sông Hậu gồm một hệ
thống đứt gãy với 2 đứt gãy sâu có
chiều sâu ảnh hưởng >40 km, chạy gần song
song với nhau và cách nhau từ 10 đến 15 km. Các
đứt gãy này có phương phát triển từ TB-ĐN
chuyển dần sang hướng á kinh tuyến,
hướng cắm thay đổi từ ĐB ở
đất liền và biển ven bờ sang TN ở bể
Nam Côn Sơn.
Hình thái
cấu trúc và địa hình móng Tiền Kainozoi và chiều
dày trầm tích Kainozoi đã được làm rõ, trong đó
chiều dày trầm tích Kainozoi ở các khối sụt Trà
Cú, Vĩnh Lợi đạt đến > 3200 m, ở khối
sụt tây bắc Côn Đảo đến 2000 m, chiều
dày trầm tích Kainozoi ở khối nâng TN cửa Vĩnh
Thạnh tương đối mỏng, từ <600 đến
1000 m.
I. MỞ ĐẦU
Đặc điểm
cấu trúc kiến tạo vùng ven biển và biển ven
bờ tỉnh Sóc Trăng đã có nhiều công trình nghiên
cứu đề cập đến, tuy nhiên do mức độ
tài liệu hạn chế, hoặc do mục đích nghiên
cứu, các công bố trước đây mới chỉ nêu
những nét khái quát.
Công tác điều tra,
tìm kiếm dầu khí chủ yếu tập trung ở các
bể Cửu Long và Nam Côn Sơn. Từ năm 2006, Trung tâm
Địa chất và Khoáng sản Biển thuộc Tổng
cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã
thực hiện đề án “Điều tra, đánh giá
tiềm năng tài nguyên khoáng sản vùng biển ven bờ
tỉnh Sóc Trăng tỷ lệ 1:100.000”. Đã tiến hành
các khảo sát địa vật lý gồm: đo từ
biển, địa chấn nông phân giải cao, xạ
phổ gamma, máy dò bằng âm thanh quét sườn cùng với
các phương pháp điều tra địa chất, khoáng
sản khác.
Trên cơ sở các tài
liệu do Trung tâm này thu thập từ thực địa
và từ các nguồn khác, các tác giả đã tiến hành
xử lý, phân tích, tổng hợp và thành lập sơ
đồ cấu trúc kiến tạo vùng ven biển và
biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng và các vùng phụ
cận.
II. CÁC NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ, PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP
1. Các nguồn
tài liệu sử dụng
Các
nguồn tài liệu sử dụng trong bài báo này bao gồm:
- Tài
liệu khảo sát từ máy bay tỷ lệ 1:200.000 do Liên
đoàn Vật lý Địa chất thu thập trong các năm từ 1984 đến 1991.
- Tài liệu khảo sát trọng lực tỷ lệ
1:200.000 do Tổng cục Dầu khí (nay là Tập đoàn
Dầu khí VN) thu thập năm 1983.
- Tài
liệu đo sâu điện và khoan ven biển thuộc các
phương án khác nhau.
- Tài
liệu khảo sát từ và trọng lực biển tỷ
lệ 1:500.000 (Tập đoàn Dầu khí VN).
- Tài
liệu khảo sát từ và trọng lực biển tỷ
lệ 1:2.000.000 (Tập đoàn Dầu khí VN).
- Tài liệu khảo
sát từ
và địa chấn phân giải cao tỷ lệ 1/500.000 và 1:100.000 (Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển).
- Một số mặt cắt địa chấn 2D do công ty Mandrel và CGG
tiến hành.
Ngoài ra còn tham khảo tài liệu từ và trọng lực tỷ lệ nhỏ công bố trên mạng, tài liệu khoan, cột địa tầng và cấu trúc các bể Cửu Long, Nam Côn Sơn, v.v...
2. Các
phương pháp xử lý và phân tích
Công tác xử
lý và phân tích được tiến hành theo trình tự: xử lý, phân
tích riêng rẽ từng dạng tài liệu một cách độc lập →
đối sánh kết
quả phân tích các dạng tài liệu khác nhau → kiểm
tra, xử lý phân tích lại → tổng hợp, thống nhất
kết quả → đối sánh với các tài liệu
địa chất, khoan → hoàn chỉnh và thành lập các bản
đồ kết quả.
Đối
với tài liệu từ, tiến hành chuyển trường từ về
cực bằng
chương trình “Chuyển trường từ vùng vĩ
độ thấp về cực” trong bộ chương
trình “Potention field” (Trường thế) của Cục Địa chất Trung ương
Mỹ (1995). Do không có tài liệu đo tham số từ
định hướng của các đất đá,
dựa trên các bản đồ trường từ bình
thường thế giới của IGRF năm 2005 có tính
đến sự biến đổi hàng năm, các tác
giả chọn các góc nghiêng của trường từ hoá
hiện đại là: D = 0, I = 150 và góc nghiêng
của trường từ hoá dư: Dd = 0, Id
= 900. Tiến hành lọc và nâng trường từ
và trường trọng lực bằng bộ chương
trình Coscad.3D và Potention field. Kích thước các bộ
lọc: 7,5×7,5 km, 10×10 km, 15×15 km, 20×20 km, 30×30 km và 40×40 km.
Việc xác
định chiều dày trầm tích Kainozoi được
tiến hành như sau:
- Trên các tuyến
đo địa chấn sâu 2D, xác định chiều dày
trầm tích Kainozoi.
- Lựa chọn
trường trọng lực biến đổi có
tương quan tốt nhất với cấu trúc và
chiều dày trầm tích Kainozoi đã được xác
định theo tài liệu địa chấn sâu 2D.
- Xây dựng hàm tương
quan hồi quy giữa giá trị trường trọng
lực và chiều dày trầm tích Kainozoi (xác định theo
băng địa chấn).
-
Dựa vào hàm tương quan hồi quy tính chiều dày
trầm tích Kainozoi theo tài liệu trọng lực cho toàn
diện tích nghiên cứu.
Hàm tương quan
hồi quy giữa trường dư trọng lực
lọc 10 km và chiều dày trầm tích Kainozoi vùng nghiên
cứu có dạng như sau:
H = -40,98 X + 852,89.
với X: giá trị trường trọng lực (mGal), H: chiều dày trầm tích Kainozoi (m).
III. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC KIẾN TẠO VÙNG VEN BIỂN VÀ BIỂN VEN BỜ TỈNH SÓC TRĂNG VÀ VÙNG PHỤ CẬN THEO TÀI LIỆU ĐỊA VẬT LÝ
1. Các hệ
thống đứt gãy
Theo kết quả xử lý, phân tích tổng hợp tài liệu địa vật lý, trong vùng nghiên cứu các đứt gãy phát triển khá phức tạp. Có thể phân thành 3 hệ thống đứt gãy chính: á kinh tuyến, TB-ĐN và ĐB-TN. Hệ thống đứt gãy phương ĐB-TN cổ nhất, bị các đứt gãy hệ thống TB-ĐN và á kinh tuyến phân cắt, làm dịch chuyển. Trẻ nhất có lẽ là các đứt gãy có phương á kinh tuyến, trên trường vật lý chúng được thể hiện khá thẳng. Các đứt gãy có độ sâu và chiều dài phát triển rất đa dạng; trong sơ đồ cấu trúc này chủ yếu trình bày các đứt gãy cấp I và cấp II.
a. Hệ thống đứt gãy ĐB-TN: Đóng vai trò rất lớn trong việc hình thành bình đồ cấu trúc hiện đại. Có thể phân thành 2 nhóm:
+ Nhóm 1: có phương vị khoảng 40-500. Trong nhóm này có 3 đứt gãy cấp I: F1đb1 (Cà Mau - Cam Ranh), F1đb2 (Hòn Khoai - Cà Ná), F1đb3 (Nam Côn Sơn - Phú Quý) và 1 đứt gãy cấp II: F2đb3.
+ Nhóm 2: có phương vị khoảng 20-300 gồm các đứt gãy cấp II: F2đb1 và F2đb2.
- Đứt
gãy Cà Mau -
- Đứt gãy Hòn Khoai - Cà Ná: Trên bản đồ dị thường trọng lực, đứt gãy Hòn khoai - Cà Ná theo dõi được không liên tục, thể hiện bởi từng đoạn đường đẳng trị song song kéo dài, phân chia các vùng trường âm, dương khác biệt nhau. Trên trường từ cũng thấy như vậy.
Theo tài liệu biến đổi trường, đứt gãy Hòn Khoai - Cà Ná có độ sâu >40 km, cắm về TB. Theo tài liệu địa chấn, đứt gãy Hòn Khoai - Cà Ná cắm về TB, góc cắm khoảng 70-750 và theo dõi được trong các thành tạo Kainozoi hạ (trong Oligocen và Miocen - các tuyến địa chấn S.17, S.3018-119, CGG.15).
- Đứt
gãy
Trên trường trọng lực: thể hiện là ranh giới miền trường dương ở phía ĐN, trường âm phía TB, riêng vùng Côn Sơn thể hiện bởi dải dị thường cường độ cao. Trên bản đồ dị thường từ, đứt gãy biểu hiện bởi chuỗi dị thường âm dương xen kẽ, kích thước nhỏ, phân bố kéo dài liên tục từ TN Côn Sơn đến đảo Phú Quý.
Đứt gãy Nam Côn Sơn - Phú Quý đóng vai trò là ranh giới bể Cửu Long phía TB và đới nâng Côn Sơn phía ĐN.
Theo tài liệu từ - trọng lực và địa chấn sâu (Tuyến S12 ), đứt gãy có độ sâu ảnh hưởng >40 km và cắm về phía TB.
b. Hệ thống đứt gãy phương TB-ĐN: Các đứt gãy theo phương TB-ĐN khá phát triển trong vùng nghiên cứu. Chúng phân bố gần như song song với nhau và theo dõi được tương đối liên tục. Chúng bị các đứt gãy phương á kinh tuyến cắt qua và làm dịch chuyển. Các đứt gãy phương TB-ĐN cùng với hệ thống đứt gãy phương ĐB-TN là các yếu tố chính tạo nên bình đồ cấu trúc hiện đại.
Trong phạm vi diện tích nghiên cứu đã xác định được 2 đứt gãy cấp I: F1tb1 (Sông Hậu 1); F1tb2 (Sông Hậu 2) và 4 đứt gãy cấp II: F2tb1, F2 tb2, F2 tb3 và F2tb4.
- Hệ thống đứt gãy Sông Hậu: Theo nhiều tài liệu đã công bố [4, 7, 10], cho đến nay nhiều tác giả vẽ đứt gãy Sông Hậu ở phần đất liền chạy dọc theo sông Hậu; khi ra gần bờ biển, đứt gãy này dịch sang TN về phía cửa Trần Đề và tiếp tục theo hướng TB-ĐN tới sát ĐB đảo Côn Sơn. Nhưng một số tác giả sau này lại cho rằng đứt gãy Sông Hậu chạy dọc theo sông Hậu ra sát cửa Định An rồi kéo về phía ĐN.
Các kết quả xử lý và phân tích tài liệu từ và trọng lực cho thấy hệ thống đứt gãy Sông Hậu gồm 2 đứt gãy chính, phân bố gần song song với nhau và cách nhau khoảng 10-15 km.
* Đứt gãy Sông Hậu 1: Phần trong đất liền gần trùng với sông Hậu hiện tại, qua cửa Định An kéo về phía ĐB Côn Sơn. Trên bản đồ trọng lực, đứt gãy này biểu hiện bởi các đường đẳng trị song song kéo dài, phân chia ranh giới trường dương tương đối ở phía ĐB và âm tương đối phía TN. Đặc điểm này thể hiện rõ ở phần trong đất liền và gần vùng đảo Côn Sơn. Trên bản đồ từ, nó được thể hiện bởi chuỗi các dị thường kích thước nhỏ chạy dọc sát sông Hậu, đặc biệt từ cửa Định An đến ĐB Côn Sơn.
* Đứt gãy Sông Hậu 2: Chạy gần như song song với đứt gãy Sông Hậu 1 về phía TN. Theo tài liệu trọng lực, đứt gãy Sông Hậu 2 được biểu hiện bởi hệ thống các đường đẳng trị song song kéo dài và là ranh giới các miền trường dương-âm khác nhau. Đặc điểm này thể hiện đặc biệt rõ ở vùng Đồng Tháp (An Giang) và từ Trường Khánh đến cửa Định An. Trên vùng biển, đứt gãy này thể hiện rõ bởi ranh giới các vùng trường dương-âm, đặc biệt rõ trên trường dư trọng lực.
Trên bản đồ trường từ, đứt gãy Sông Hậu 2 cũng thể hiện rõ bởi chuỗi các dị thường song song kéo dài và ranh giới các miền trường khác nhau, đặc biệt rõ nét từ cửa Định An đến sát ĐB Côn Sơn. Theo kết quả xử lý tài liệu từ và trọng lực, hệ thống đứt gãy Sông Hậu có chiều sâu phát triển lớn >40 km.
Phương kéo dài của hệ thống đứt gãy Sông Hậu có sự thay đổi từ TB-ĐN trên phần đất liền và chuyển dần sang hướng gần á kinh tuyến ở bể Nam Côn Sơn.
Hướng cắm của hệ thống đứt gãy Sông Hậu có dạng xoắn vỏ đỗ. Trên phần đất liền, đứt gãy có hướng cắm ĐB với góc dốc khoảng 75-800. Ra biển sát bờ, theo tài liệu địa chấn sâu, cắm về ĐB, góc dốc khoảng 850 (tuyến S.17). Gần sát Côn Đảo (tuyến S.18), đứt gãy cắm gần như thẳng đứng và ở bể Nam Côn Sơn (tuyến S.21) đứt gãy có phương á kinh tuyến, cắm về TN với góc dốc khoảng 850.
Khoảng giữa các đứt gãy F1tb1 (Sông Hậu 1) và F1tb2 (Sông Hậu 2) là một đới cấu trúc bị phức tạp hóa mạnh bởi các đứt gãy bậc nhỏ hơn và các đới dập vỡ. Theo tài liệu địa chấn, hệ thống đứt gãy Sông Hậu quan sát được cả trong các thành tạo Miocen trung (tuyến S.18 và S.17).
c. Hệ thống đứt gãy á kinh tuyến: Hệ thống đứt gãy á kinh tuyến trong vùng nghiên cứu khá phát triển. Tuy nhiên, phần lớn các đứt gãy theo dõi được đều có chiều sâu phát triển không lớn, chủ yếu là các đứt gãy cấp II và cấp III. Các đứt gãy á kinh tuyến thường tương đối thẳng và biểu hiện chủ yếu bởi chuỗi các đường đẳng trị trường trọng lực và trường từ song song kéo dài, đoạn trên đất liền biểu hiện bởi chuỗi các dị thường từ kích thước nhỏ, phân bố dạng dải.
Các đứt gãy phương á kinh tuyến hầu hết cắm gần như thẳng đứng và đóng vai trò không lớn trong việc hình thành các cấu trúc.
2. Đặc
điểm cấu trúc kiến tạo
Theo các tài liệu đã công bố [4, 7, 10], vùng nghiên cứu có cấu trúc địa chất phức tạp. Trên bình đồ cấu trúc kiến tạo chung của khu vực, vùng nghiên cứu tiếp giáp với các đơn vị cấu trúc lớn sau:
- Phía ĐĐB
tiếp giáp với bể Cửu Long. Giới hạn
phía TN của bể Cửu Long là đứt gãy Sông Hậu,
phía ĐN là đứt gãy Nam Côn Sơn - Phú Quý. Đây là bể Kainozoi sớm hình
thành và phát triển trên móng không đồng nhất, kéo dài
theo phương ĐB-TN.
- Diện tích phía
ĐN đứt gãy Hòn Khoai - Cà Ná thuộc đới nâng
Côn Sơn. Phía ngoài đới nâng Côn Sơn từ
đứt gãy Hòn Hải về phía ĐN-N là bể Nam Côn
Sơn.
- Phần còn lại
từ phía TB đứt gãy Hòn Khoai - Cà Ná kéo vào trong
đất liền thuộc đới Cần Thơ. Trong
phạm vi vùng nghiên cứu có mặt 2 phụ đới là
Bến Tre và Cà Mau, phân cách nhau bởi đứt gãy Sông
Hậu.
Các tài liệu địa vật lý cho thấy như sau:

Hình 1. Bản đồ dị
thường trọng lực Bouguer vùng Sóc Trăng.
a. Đới nâng Côn Sơn: Trong
phạm vi vùng nghiên cứu, đới nâng Côn Sơn bị
khống chế bởi đứt gãy F2đb3 ở phía TB
và đứt gãy F2kt2 ở phía tây.
Đặc
điểm trường vật lý: đới nâng Côn
Sơn thể hiện rất rõ bởi trường
trọng lực dương (Hình 1) với giá trị
tương đối cao ∆gb = -5 ÷ 25 mGal; ở
trung tâm vùng Côn Đảo giá trị phổ biến ∆g
= 20 ÷ 25 mGal
Trường
dị thường từ biến đổi phức
tạp với các dị thường âm, dương xen
kẽ nhau với biên độ lớn ∆T = -450 ÷ 250 nT.
Đới nâng Côn Sơn được thể hiện rõ
hơn khi chuyển từ về cực và nâng trường
trọng lực ở các độ cao khác nhau từ 10
đến 40 km.
Trong
đới cấu trúc này, các đá phun trào - xâm nhập
vôi-kiềm tuổi Jura-Creta chiếm ưu thế ở
phần móng, được nâng lên mạnh mẽ vào Kainozoi
sớm tạo thành các đảo ở ngoài khơi
(thuộc quần đảo Côn Sơn).
Chiều
dày trầm tích Kainozoi mỏng, phổ biến 400-800 m; vùng
gần Côn Đảo mỏng hơn, khoảng 0 ÷ <100 m, phía ĐB có chiều
dày lớn hơn, khoảng 1000-1200 m.
b. Đới trũng Cửu Long: Theo các
tài liệu địa vật lý đặc biệt
trường trọng lưc, trường từ và các
trường biến đổi của chúng, phần
lớn diện tích nghiên cứu là phần kéo dài của trũng
Cửu Long, phía ĐN tiếp giáp đới nâng Côn Sơn,
phía TB đến sát bờ biển hiện đại.
Đặc
trưng chung của đới này là trường trọng
lực âm tương đối với giá trị phổ
biến ∆g = -10 ÷ -35 mGal, tạo
thành các vùng trường thấp có phương ĐB-TN,
trường từ tương đối bình ổn, giá
trị phổ biến ∆T = -200 ÷ 150 nT.
Trong phạm vi nghiên cứu, đới
trũng Cửu Long có sự nâng, sụt tương
đối và có thể phân thành các khối cấu trúc chính
sau:
- Bể
Cửu Long: Theo tài liệu địa vật lý phía ĐN bể
Cửu Long tiếp giáp với đới nâng Côn Sơn, phía
TN giới hạn bởi đứt gãy Sông Hậu 2, phía TB
tiếp giáp với phụ đới Bến Tre qua
đứt gãy F2kt1.
Đặc
điểm chung trường vật lý bể Cửu Long là
trường trọng lực thấp, giá trị phổ
biến ∆g = -5 ÷ -35 mGal, trường từ tương
đối bình ổn, tạo thành các vùng trường
dương, âm tương đối có kích thước
lớn, giá trị phổ biến ∆T = -230 ÷ -100 nT.
Theo
tài liệu khoan dầu khí, đá móng Tiền Kainozoi trong
bể Cửu Long chủ yếu là granit và granodiorit-diorit,
ngoài ra còn gặp các thành tạo biến chất và phun trào.
Lớp
phủ Kainozoi là các thành tạo sông, sông-hồ, châu thổ -
biển nông, biển nông, biển ven bờ tuổi Kainozoi
với chiều dày từ 1000-1500 m đến 5000-6000 m.
Các
nhà địa chất dầu khí chia bể Cửu Long thành
các đơn vị cấu trúc khác nhau như: cấu trúc
đơn nghiêng, cấu trúc phân dị mạnh, đới
trũng và đới nâng.
Trong
diện tích nghiên cứu đáng chú ý là khối sụt Trà
Cú:
-
Khối sụt Trà Cú có dạng ellip, kích thước
khoảng 40×50 km, giới hạn phía TN bởi đứt
gãy Sông Hậu 2, phía TB bởi đứt gãy F2kt1.
-
Trường địa vật lý trên khối sụt Trà Cú
rất đặc trưng bởi trường trọng
lực thấp với giá trị ∆g = -15 ÷ -35 mGal, trường từ âm
với giá trị ∆T = -200 ÷ -350 nT.
-
Bề dày trầm tích Kainozoi khối sụt Trà Cú theo tài
liệu địa vật lý đạt từ 1200
đến >3200 m. (tại Trà Cú đã khoan đến
độ sâu 2120 m chưa hết hệ tầng Trà Cú [7]).
- Khối sụt Tây Bắc Côn Đảo: Khối
sụt TB Côn Đảo nằm sát đới nâng Côn Sơn
và phân cách với đới nâng này bởi đứt gãy
F2đb3, có dạng gần ellip kéo dài theo hướng
ĐB-TN với chiều dài khoảng 55 km, chiều rộng
thay đổi từ 10 đến 25 km, đặc trưng
bởi trường trọng lực âm với ∆g = -10 ÷
-23 mGal, trường từ ∆T =
-150 ÷ -200 nT. Theo tài liệu trọng lực, ranh
giới giữa khối sụt này và đới nâng Côn
Sơn biểu hiện bởi các đường
đẳng trị dày sít nhau, thể hiện ranh giới
này rất dốc.
Các
tài liệu địa chấn sâu Tuyến S.4 và S.18 và tài
liệu trọng lực cho thấy chiều dày trầm tích
Kainozoi ở đây dao động từ 1200 đến 2000
m, trong đó các thành tạo sông, sông-hồ tuổi Oligocen và
Miocen sớm chiếm khối lượng lớn,
khoảng 700-1500 m. Thành phần đá móng có thể là các
thành tạo biến chất (?).
- Khối sụt Vĩnh
Lợi: Khối sụt
Vĩnh Lợi (trước đây gọi là đới
sụt Vĩnh Châu, Nguyễn Biểu và nnk., 2001)
nằm gần bờ biển tỉnh Bạc Liêu, có
phương kéo dài theo hướng ĐB-TN, chiều dài
khoảng 80 km, chiều rộng khoảng 50 km. Vùng nghiên
cứu chỉ chiếm một phần diện tích khối
sụt này.
Đặc trưng địa vật lý khối sụt thể hiện rõ bởi trường trọng lực âm với giá trị ∆g = -15 ÷ -30 mGal, trường từ biến đổi it với giá trị ∆T = -180 ÷ -250 nT, khi chuyển về cực thể hiện là vùng trường âm tương đối với giá trị ∆T = -50 ÷ 100 nT.

Hình 2. Sơ đồ cấu trúc kiến tạo vùng Sóc
Trăng và các vùng phụ cận.
Chiều
dày trầm tích Kainozoi theo tài liệu địa chấn sâu
(tuyến S3 108-119) và tính toán
thay đổi từ 1200 đến > 3200 m.
- Khối nâng TN cửa Mỹ Thạnh: Khối nâng TN cửa Mỹ
Thạnh có phương kéo dài theo hướng TB-ĐN. Phía
ĐB giới hạn bởi đứt gãy Sông Hậu 2,
phía ĐN giới hạn bởi đứt gãy Hòn Khoai - Cà
Ná, phía TN tiếp giáp với khối sụt Vĩnh Lợi,
phía TB hầu như khó phân chia với các thành tạo
phụ đới Cà Mau.
Trường
địa vật lý trên khối nâng TN cửa Mỹ
Thạnh thể hiện khá rõ bởi trường trọng
lực dương tương đối với giá
trị ∆g = -10 ÷ 5 mGal,
trường từ thể hiện bởi dải
trường bình ổn, với giá trị dương
tương đối ∆T = -170 ÷ -190 nT.
Theo kết quả tính
toán, chiều dày trầm tích Kainozoi trong phạm vi khối
nâng đạt từ < 600 đến 1000 m.
Ngoài các khối
nâng-sụt đã trình bày trên, ở vùng hai đảo Hòn
Trứng theo tài liệu địa vật lý cũng thể
hiện khối nâng kích thước nhỏ, có phương
gần á kinh tuyến, diện tích khoảng 30×12 km. Khối
nâng Hòn Trứng thể hiện bởi dị thường
dương tương đối của trường
trọng lực với quy mô và biên độ nhỏ ∆g
= -10 ÷ -12 mGal, trường từ biểu hiện không rõ
ràng. Bản chất địa chất khối nâng này có
thể là thành tạo magma phức hệ Đèo Cả
(γK đc), đã lộ một phần trên 2
đảo Hòn Trứng.
c.
Đới Cần Thơ: Trên bình đồ cấu
trúc chung, đới Cần Thơ chiếm hầu hết
diện tích đồng bằng Cửu Long và
được chia làm 3 phụ đới là: Đồng
Tháp, Bến Tre, và Cà Mau. Trong diện tích nghiên cứu
chỉ có một phần rất nhỏ của dải ven
biển các phụ đới Bến Tre và Cà Mau.
- Phụ đới Bến Tre: Phụ
đới Bến Tre chỉ chiếm một diện tích
rất nhỏ hẹp ở vùng ven biển Sóc Trăng.
Phần lớn diện tích của phụ đới này
nằm ở ven biển và vùng đất liền thuộc
tỉnh Trà Vinh.
Trong
phạm vi nghiên cứu, phụ đới Bến Tre có
thể xem là vùng tiếp giáp bể Cửu Long và giới
hạn bởi đứt gãy Sông Hậu 1 về phía TN.
Phụ
đới Bến Tre phân biệt với bể Cửu Long
bởi trường trọng lực dương với giá
trị ∆g = 7 ÷ 17 mGal, trường từ biến
đổi phức tạp bởi các dị thường
dương-âm xen kẽ với biên độ lớn ∆T
= -200 ÷ 100 nT.
Móng
Tiền Kainozoi của phụ đới có thể là móng
kết tinh Tiền Cambri bị hoạt hóa magma - kiến
tạo mạnh mẽ vào Creta. Bề dày trầm tích Kainozoi
trong phạm vi nghiên cứu theo tính toán tương
đối mỏng, khoảng 800-1200 m.
- Phụ đới Cà Mau: Phụ đới Cà Mau bị giới hạn bởi
các đứt gãy chính là đứt gãy Sông Hậu 2 ở
phía ĐB và đứt gãy Hà Tiên - Gành Hào ở phía tây (ngoài
vùng nghiên cứu), tiếp giáp với khối sụt
Vĩnh Lợi và khối nâng TN cửa Mỹ Thạnh
về phía ĐN.
Trường
địa vật lý thể hiện rõ bởi trường
từ có dạng phức tạp bởi các dị
thường âm-dương xen kẽ kích thước không
lớn ∆T = -200 ÷ 100 nT, trường trọng lực
dương tương đối ∆g = 10 ÷ 17 mGal.
Móng Tiền Kainozoi của phụ
đới là các trầm tích lục nguyên tuổi Paleozoi
giữa [10]. Theo tính toán, chiều dày trầm tích Kainozoi
của phụ đới Cà Mau trong phạm vi nghiên
cứu < 1000 m.
KẾT LUẬN
Các kết
quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ đặc
điểm cấu trúc vùng ven biển và biển ven bờ
tỉnh Sóc Trăng và vùng phụ cận với các nội
dung sau:
- Hệ
thống đứt gãy trong diện tích ven biển và
biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng và vùng phụ cận
thể hiện rất phức tạp với 3 hệ
thống chính: ĐB-TN, TB-ĐN và á kinh tuyến.
- Hệ thống đứt gãy Sông Hậu là hệ thống đứt gãy phức tạp, trong đó tồn tại 2 đứt gãy sâu với chiều sâu ảnh hưởng >40 km, chạy gần song song với nhau và cách nhau từ 10 đến 15 km. Các đứt gãy này có phương phát triển từ TB-ĐN chuyển dần sang hướng á kinh tuyến, hướng cắm thay đổi từ ĐB ở đất liền và biển ven bờ sang TN ở bể Nam Côn Sơn.
- Hình thái cấu trúc, địa hình móng Tiền Kainozoi, chiều dày trầm tích Kainozoi được làm rõ, trong đó các khối sụt Trà Cú, Vĩnh Lợi có chiều dày đạt đến >3200 m, khối sụt TB Côn Đảo đến 2000 m, chiều dày trầm tích Kainozoi khối nâng tương đối TN cửa Vĩnh Thạnh tương đối mỏng từ <600 đến 1000 m.
Trên cơ sở bản đồ cấu trúc kiến tạo có thể nhận xét về khả năng xảy ra tai biến địa chất trong vùng nghiên cứu như sau:
- Các khối sụt tồn tại với kích thước không lớn, nhưng biên độ sụt lún khá lớn như: các khối sụt Trà Cú, Vĩnh Lợi có biên độ sụt đến >3200 m, khối sụt TB Côn Đảo có biên độ sụt đến 2000 m. Ranh giới các khối sụt là các đứt gãy sâu, vì vậy ở vùng tiếp giáp các khối nâng và khối sụt, tính bền vững và ổn định của đá gốc kém. Do đó, khi tiến hành các hoạt động như khai thác cát, xây dựng các công trình lớn ở các khu vực này cần quan tâm đến yếu tố này, nhất là vùng xung quanh khối sụt Trà Cú và phía TB Côn Đảo. Rìa TB Côn Đảo là đứt gãy F2đb3 theo dõi được, còn hoạt động trong giai đoạn Pleistocen và sườn đá gốc rất dốc, mặc dầu đá gốc ở đây là thành tạo xâm nhập có độ bền vững cao.
- Các đứt gãy theo dõi được còn hoạt động trong giai đoạn Đệ tứ, chủ yếu trong Pleistocen, hầu hết là đứt gãy cấp III, trừ 2 đứt gãy cấp II là F2đb3 và F2tb4. Mặt khác, các bản đồ đẳng chiều dày và đẳng sâu đáy trầm tích Đệ tứ cho thấy trong giai đoạn Đệ tứ không có hoạt động nâng sụt kiến tạo lớn. Tuy vậy, theo kết quả nghiên cứu, hệ thống đứt gãy sâu cấp I Sông Hậu phát triển rất phức tạp, có hướng cắm thay đổi từ ĐB ở phần đất liền sang TN ở trũng Nam Côn Sơn. Điều đó có thể suy đoán là hệ thống đứt gãy này có các giai đoạn hoạt động khác nhau. Theo tài liệu địa chấn, đứt gãy này còn hoạt động vào Miocen giữa. Vì vậy, khả năng sinh chấn dọc theo hệ thống đứt gãy Sông Hậu có thể xảy ra.
Theo Cao Đình Triều, hệ thống đứt gãy Sông Hậu thuộc đới đứt gãy có biểu hiện rõ dấu hiệu đang hoạt động và đã quan sát được động đất đến cấp 4,5 độ Richter [1].
Các tác giả hy vọng các kết quả này sẽ góp phần làm sáng tỏ và chi tiết hơn cấu trúc kiến tạo trong phạm vi vùng nghiên cứu.
VĂN LIỆU
1. Cao Đình Triều, 2008. Động đất. Nxb KH&KT, Hà Nội.
2. Cục Hải
quân Mỹ, 1967. Bản đồ từ hàng không
miền Nam Việt
3. Mai
Thanh Tân (Chủ biên), 2005. Đặc điểm
địa chất và địa chất công trình thềm
lục địa ĐN Việt
4. Nguyễn
Biểu (Chủ biên), 2001. Báo cáo Điều
tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn
đới biển nông ven bờ (0-30 m nước) Việt
5. Nguyễn
Tài Thinh (Chủ biên), 2009.
Báo cáo Thành lập bản đồ cấu trúc kiến
tạo vùng ven biển và biển ven bờ tỉnh Sóc
Trăng tỷ lệ 1:100.000. Lưu trữ TT ĐC &
KS Biển, Hà Nội.
6. Nguyễn Thiện Giao
(Chủ biên), 1987. Bản đồ dị
thường trọng lực Bughe Việt
7. Nguyên
Xuân Bao (Chủ biên), 2000. Báo cáo Nghiên cứu
kiến tạo và sinh khoáng miền Nam Việt
8. Nguyễn Xuân
Sơn (Chủ biên), 1991. Bản đồ
từ hàng không miền Nam Việt
9. Quách Văn
Gừng (Chủ biên), 1990. Báo cáo Kết
quả thành lập Bản đồ điện trở
đất Việt
10. Quách Văn
Gừng (Chủ biên), 1999. Báo cáo Thành lập
Bản đồ cấu trúc kiến tạo biển ven
bờ Bạc Liêu - Hàm Luông theo tài liệu ĐVL tổng
hợp. Lưu trữ TT ĐC&KS Biển. Hà Nội.
11. Tăng
Mười (Chủ biên), 1995. Bản
đồ từ hàng không Việt
12. Vũ
Trường Sơn (Chủ biên), 2006.
Đề án Khảo sát, đánh giá tiềm năng tài nguyên
khoáng sản vùng biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng
tỷ lệ 1:100.000. Trung tâm ĐC&KS Biển, Hà
Nội.