MỘT SỐ KẾT QUẢ CÔNG TÁC  ĐIỀU TRA CƠ BẢN
ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VÙNG BIỂN NÔNG VIỆT NAM

 VŨ TRƯỜNG SƠN, NGUYỄN BIỂU, ĐÀO MẠNH TIẾN,
 DƯƠNG VĂN HẢI,  LÊ VĂN HỌC, LÊ ANH THẮNG

Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển,
125 Trung Kính, Trung Ḥa, Cầu Giấy, Hà Nội.

Tóm tắt: Điều tra cơ bản về địa chất và tài nguyên khoáng sản, nghiên cứu, dự báo tiềm ẩn tai biến địa môi trường và đề xuất các giải pháp pḥng tránh phục vụ lập các quy hoạch, kế hoạch xây dựng hạ tầng cơ sở, phát triển bền vững các vùng kinh tế ven biển và biển là nhiệm vụ có tính cấp thiết và quan trọng đă được Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam thực hiện từ  năm 1991 cho đến nay. Trong 19 năm qua, Trung tâm đă hoàn thành nhiều đề án, dự án điều tra cơ bản địa chất và t́m kiếm khoáng sản rắn ở các vùng biển Việt Nam từ 0 đến 100 m nước, đă giao nộp Lưu trữ Địa chất nhiều báo cáo kết quả điều tra. Từ năm 1996 đến nay, Trung tâm đă tham gia thực hiện và chủ tŕ thực hiện nhiều đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước đặc biệt là các đề tài thuộc chương tŕnh nghiên cứu biển (KC-09) và các đề tài điều tra nghiên cứu, tổng hợp khác phục vụ các ngành trung ương và địa phương.  Đă chuyển giao cho các đối tác các bộ bản đồ về điều kiện tự nhiên, tài nguyên không sinh vật và hiện trạng địa chất môi trường biển, tiềm ẩn tai biến,… giúp cho các địa phương, các ngành có định hướng tốt trong lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế ven biển và biển.

Để đáp ứng ngày càng cao hiểu biết đối với vùng biển và thềm lục địa rộng lớn của nước ta phục vụ cho phát triển kinh tế, Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển đang thi công các đề án điều tra cơ bản, đă và đề xuất nhiều nhiệm vụ điều tra tài nguyên môi trường biển, và các giải pháp thực hiện có tính khả thi trong giai đoạn 2010-2020 đáp ứng các yêu cầu cấp thiết của Nhà nước .


I. MỞ ĐẦU

Từ năm 1991 đến nay, Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển, trước đây là Trung tâm Địa chất Khoáng sản Biển (1991-2003), Liên đoàn Địa chất Biển (2003-2008), đă được Nhà nước cấp vốn, các cấp trên giúp đỡ về mọi mặt, và tự lực cánh sinh xây dựng và thực hiện chu tŕnh công nghệ điều tra cơ bản địa chất biển, đào tạo cán bộ… nên đă hoàn thành và đang thực hiện nhiều đề án, dự án điều tra cơ bản về địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường, tai biến địa chất biển (H́nh 1).

Các đề án đă hoàn thành và giao nộp Lưu trữ Địa chất:

- Từ 1991-2001: “Điều tra địa chất và t́m kiếm khoáng sản rắn vùng biển ven bờ Việt Nam (0-30 m nước) tỷ lệ 1/500.000", diện tích điều tra 97.000 km2.

- Từ 2001-2006: "Điều tra địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất vùng biển Nam Trung Bộ tỷ lệ 1/100.000 và một số vùng trọng điểm tỷ lệ 1/50.000", diện tích điều tra 9.700 km2 thuộc vùng biển từ Tuy Hoà đến Vũng Tàu.

Các đề án/dự án đang thực hiện:

- Đề án “Khảo sát đánh giá tiềm năng khoáng sản biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng tỷ lệ 1/100.000”, diện tích điều tra 5550 km2 (thực hiện từ 2006, dự kiến kết thúc vào 2009);

- Dự án “Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất các vùng biển Việt Nam” (thực hiện từ 2007, dự kiến kết thúc vào 2011) thuộc “Đề án tổng thể về quản lư tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nh́n đến năm 2020” ban hành theo Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg ngày 1/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là dự án lớn, gồm nhiều dự án thành phần:

+ Dự án thành phần "Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất vùng biển Hải Pḥng - Quảng Ninh tỷ lệ 1/100.000 và vùng biển Bạch Long Vỹ tỷ lệ 1/50.000", diện tích điều tra: tỷ lệ 1/100.000 là 4600 km2, tỷ lệ 1/50.000 là 345 km2. Dự án này đă hoàn thành trong năm 2007-2008.

H́nh 1. Sơ đồ tŕnh bày các khu vực điều tra địa chất - khoáng sản
vùng biển Việt Nam của Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển
.


+ Dự án thành phần "Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất vùng biển Phú Quốc - Hà Tiên tỷ lệ 1/100.000", diện tích điều tra là 2816 km2. Dự án này đă hoàn thành trong năm 2008.

+ Dự án thành phần "Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất vùng biển Việt Nam từ 30 đến 100 m nước tỷ lệ 1/500.000", diện tích điều tra 150.130 km2. Trong năm 2008, dự án thành phần này đă được chúng tôi thực hiện công tác khảo sát và lập báo cáo thông tin cho các vùng biển Tây Nam (diện tích 26.680 km2), vùng biển Trà Cổ - Cửa Nhượng (diện tích 16.290 km2). Trong năm 2009, đang thực hiện khảo sát cho vùng biển Cửa Nhượng - Cửa Cung Hầu. Dự kiến trong năm 2010 sẽ kết thúc thi công dự án này.

+ Dự án thành phần “Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất vùng biển Trường Sa tỷ lệ 1/500.000”, diện tích điều tra là 20.000 km2. Dự án này dự kiến thực hiện trong năm 2011.

+ Dự án thành phần “Bay đo từ biển (từ 100 m nước trở ra) tỷ lệ 1/500.000”, diện tích điều tra 550.000 km2. Dự án này dự kiến thực hiện trong năm 2010-2011

Như vậy, cho đến nay, công tác điều tra địa chất - khoáng sản biển chủ yếu được tiến hành ở khu vực có độ sâu 0-30 m nước (các tỷ lệ 1/500.000, 1/100.000 và 1/50.000), một số vùng biển ở độ sâu 30-100 m nước đă được điều tra ở tỷ lệ 1/500.000.

Bài báo này giới thiệu một số kết quả chính của công tác điều tra cơ bản địa chất - khoáng sản biển thông qua các đề án/dự án đă nêu trên.

II. CÁC KẾT QUẢ CHÍNH CỦA CÔNG TÁC ĐIỀU TRA CƠ BẢN ĐỊA CHẤT VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN VIỆT NAM

1. Hệ thống sản phẩm của các đề án/dự án địa chất biển

Việc điều tra, khảo sát trên biển đ̣i hỏi chi phí lớn (chủ yếu là thuê tàu khảo sát) và phụ thuộc nhiều vào thời tiết. V́ vậy, công tác điều tra địa chất - khoáng sản biển thường có nội dung tổng hợp đa ngành: khí tượng - thủy văn biển, trắc địa và bản đồ độ sâu, địa vật lư và địa chất (với nhiều chuyên ngành khác nhau), các nội dung điều tra chuyên ngành cùng được tiến hành trên một tàu khảo sát với mạng lưới thống nhất để tiết kiệm chi phí (khác với điều tra cơ bản địa chất, khoáng sản truyền thống ở đất liền). Về cơ bản, các dự án/đề án điều tra địa chất - khoáng sản biển thực hiện gồm các nội dung chính sau:

- Điều tra đặc điểm khí tượng - thủy văn, thủy động lực và thạch động lực.

- Điều tra đánh giá đặc điểm địa h́nh, địa mạo đáy biển.

- Điều tra đặc điểm cấu trúc và thành phần vật chất các thành tạo địa chất, trong đó tập trung chính vào các trầm tích Đệ tứ.

- Đánh giá tiềm năng khoáng sản rắn, bao gồm: sa khoáng Ti-Zr-TR, Au, Sn... và vật liệu xây dựng (cát sạn bê tông, cát xây dựng, cát san lấp).

- Đánh giá các đặc điểm địa chất môi trường (chế độ hải văn, môi trường địa hóa nước biển, trầm tích biển, ô nhiễm môi trường....) và dự báo tai biến địa chất (động đất, sóng thần, xói lở bờ biển, biến động luồng lạch....)

Sản phẩm chính của các dự án/đề án là các bản đồ chuyên đề (theo tỷ lệ điều tra) và báo cáo thuyết minh: độ sâu đáy biển, địa mạo, cấu trúc địa chất, địa chất Đệ tứ và trước Đệ tứ, vành trọng sa, dị thường địa hóa nguyên tố quặng, dị thường phổ gamma, phân vùng triển vọng khoáng sản, h́nh thái và chiều dày các tập địa chấn, tổng từ và dị thường từ ΔTa, trầm tích tầng mặt, thủy - thạch động lực, địa động lực, hiện trạng địa chất môi trường, địa chất tai biến và dự báo tai biến. Hệ thống bản đồ, báo cáo được lưu giữ và quản lư trong cơ sở dữ liệu của Trung tâm (cơ sở dữ liệu được xây dựng theo đề án/dự án).

2. Một vài đặc điểm địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất vùng biển ven bờ Việt Nam

2.1. Đặc điểm địa chất

a. Cấu trúc địa chất: - Vùng biển ven bờ Việt Nam có cấu trúc địa chất phức tạp do mang tính kế thừa các đới cấu trúc từ lục địa kéo ra, đồng thời có lớp phủ Kainozoi liên quan chặt chẽ với việc h́nh thành các đới cấu trúc (bể và đới nâng) phát triển trong Kainozoi ở Biển Đông. Về tổng thể, vùng nghiên cứu thuộc 2 vi mảng Nam Trung Hoa - Bắc Việt Nam và Indosini với 8 đới cấu trúc trước Kainozoi và 5 đới cấu trúc Kainozoi. Theo chiều dày lớp phủ Đệ tứ và các đặc điểm cấu trúc khác, có thể chia vùng biển ven bờ Việt Nam thành 46 khối và trũng nhỏ thuộc 13 cấu trúc lớn kể trên. Các trũng thường liên quan tới các châu thổ sông lớn hiện nay và là nhánh của các bể Kainozoi lớn, c̣n các khối nâng là nơi có nhiều đá gốc lộ ra mép biển, biển nông. Ở các khối nâng có đá gốc giàu khoáng vật quặng, phát triển aluvi và eluvi, băi triều, cồn ngầm có điều kiện tích tụ sa khoáng, c̣n ở các đới trũng có điều kiện tạo than nâu trong Oligocen-Miocen, than bùn trong Đệ tứ.

- Hệ thống khe nứt trên các đứt găy trước Đệ tứ và trong Đệ tứ khá phát triển và có 4 hướng chính: TB-ĐN (là hướng chủ đạo có số lượng lớn và có ư nghĩa phân đới), ĐB-TN, B-N và ít hơn cả là hướng Đ-T. Dọc theo các đứt găy có các dị thường từ như ở các vùng biển Quảng Ninh, Tĩnh Gia, Diễn Châu và Ḥn Rái - Ḥn Khoai (Cà Mau).

b. Các thành tạo địa chất: - Các thành tạo địa chất trước Đệ tứ: Trên cơ sở luận giải địa chất các mặt cắt địa chấn nông độ phân giải cao, ta thấy các thành tạo địa chất trước Đệ tứ chủ yếu là các trầm tích gắn kết yếu tuổi Pliocen (N2), một số nơi là các trầm tích gắn kết tuổi Miocen, Oligocen (vùng biển Bạch Long Vĩ). Các đá gắn kết cổ có thành phần đa dạng (trầm tích lục nguyên, đá phun trào và xâm nhập), phát triển kế thừa từ các cấu trúc trong lục địa ra.

- Các thành tạo địa chất Đệ tứ: được phân chia theo nguyên tắc tuổi - nguồn gốc. Theo thời gian đă phân chia được 7 phân vị chính Q11, Q12, Q12-3, Q13a, Q13b, Q21-2 và Q23. Ranh giới giữa các phân vị này thường là bề mặt sét, bột, cát phong hoá loang lổ màu đỏ, nâu, vàng... và cũng là các mặt phản xạ R1-R6 từ đáy biển đi xuống sâu. Đă xác định được các trầm tích Đệ tứ thuộc các nguồn gốc sau: sông-lũ (ap), sông (a), sông-biển (am), biển (m), biển-sông (ma), biển - đầm lầy (mb), biển-sông - đầm lầy (mab), vũng vịnh - đầm phá (bm), bazan (b). Trên cơ sở sự khác nhau về đặc điểm cột địa tầng trầm tích Đệ tứ giữa các vùng biển (đặc điểm trầm tích, thành phần vật chất, bề dày…), về lịch sử phát triển địa chất của từng vùng, cũng như sự khác nhau giữa các bể Kainozoi ở vùng biển ven bờ và thềm lục địa Việt Nam, trầm tích Đệ tứ vùng biển ven bờ Việt Nam được phân chia và mô tả theo 4 vùng lớn và 2 phụ vùng, bao gồm:

* Vùng I: Vùng biển (0-30 m nước) từ Móng Cái đến Sơn Trà, được chia thành 2 phụ vùng:

Ia: Vùng biển Móng Cái - Đèo Ngang;

Ib: Vùng biển Đèo Ngang - Sơn Trà;

* Vùng II: Vùng biển (0-30 m nước) từ Sơn Trà đến Cà Ná.

* Vùng III: Vùng biển (0-30 m nước) từ Cà Ná đến Cà Mau, được chia thành 2 phụ vùng:

IIIa: Vùng biển Cà Ná - Vũng Tàu;

IIIb: Vùng biển Vũng Tàu - Cà Mau;

* Vùng IV: Vùng biển (0-30 m nước) từ Cà Mau đến Hà Tiên.

Trong các vùng biển nêu trên, các vùng Ia, IIIb và IV có bề dày trầm tích Đệ tứ lớn nhất, có thể đạt tới 250 m; đó cũng là các vùng có đầy đủ các kiểu nguồn gốc và đa dạng kiểu tướng trầm tích nhất. C̣n các vùng khác bề dày trầm tích thường nhỏ hơn 200 m, các kiểu tướng thường đơn điệu hơn.

- Kiểu trầm tích Đệ tứ: Trầm tích Đệ tứ tích tụ trong 4 vùng biển Móng Cái - Sơn Trà, Sơn Trà - Cà Ná, Cà Ná - Cà Mau, Cà Mau - Hà Tiên có chế độ khí hậu, hải văn, địa động lực khác nhau nên h́nh thành các kiểu trầm tích, kiểu mặt cắt không giống nhau. Mức độ phong hoá ở phía Nam mạnh hơn phía Bắc và ở đó h́nh thành các lớp vỏ phong hoá dày từ 20 đến 40 m trong Đệ tứ. Phần lớn trầm tích Đệ tứ thuộc kiểu humit (nhiệt đới ẩm), riêng kiểu trầm tích á khô nóng gặp ở biển B́nh Thuận và vùng biển miền Đông và Tây Nam bộ vào thời kỳ biển lùi.

- Trầm tích Đệ tứ lộ ở đáy biển: chủ yếu có tuổi Holocen, ít hơn có Pleistocen, phần muộn. Trên cơ sở phân tích địa h́nh, địa mạo, thành phần vật chất, tuổi đồng vị đă xác định được hai đới bờ cổ nằm ở độ sâu: 25-30 m nước và 50-60 m nước. Đây là các khu vực có địa h́nh dạng cồn ngầm kéo dài theo phương song song với bờ biển hiện đại và được cấu tạo bởi cát, cát sạn có độ chọn lọc tốt, các khu vực này có điều kiện thuận lợi để h́nh thành các tụ khoáng (sa khoáng Ti-Zr, vật liệu xây dựng).

- Các thành tạo bazan: Đáy biển các vùng Vĩnh Linh - Cồn Cỏ, Tam Kỳ - Lư Sơn, Cà Ná - Kê Gà và có thể ở ngoài khơi vịnh Diễn Châu phân bố các thành tạo bazan. So sánh với tuổi các tập địa chấn địa tầng và các tài liệu về bazan hiện có cho thấy hoạt động núi lửa xảy ra ít nhất trong bốn thời kỳ: cuối Pliocen, cuối Pleistocen giữa - Pleistocen muộn, Holocen và gần đây nhất vào năm 1923 tại đảo Tro, huyện Phú Quư. Sản phẩm của các pha phun trào đă bắt gặp ở một số lớp trong các lỗ khoan băi triều ở vùng biển Cà Ná và vùng biển Đông Nam Bộ.

2.2. Tài nguyên khoáng sản        

Trên cơ sở các tài liệu thuộc các dự án/đề án đă và đang thực hiện (nêu tại mục I) ta thấy khoáng sản rắn ở vùng biển ven bờ Việt Nam chủ yếu là sa khoáng titan-zircon, vàng, thiếc, cát, sạn, sỏi làm vật liệu xây dựng, sét gạch ngói. Dưới đây là một số kết quả chính:

a. Khoáng sản kim loại

Kết quả điều tra tỷ lệ 1/500.000 ở vùng biển 0-30 m nước Việt Nam cho thấy chủ yếu phát hiện được sa khoáng khoáng vật nặng: titan-zircon…, đôi khi có vàng, thiếc đi kèm.

- Sa khoáng titan-zircon đă được phát hiện ở nhiều nơi, nhưng chỉ có dải ven biển miền Trung từ Hà Tĩnh đến B́nh Thuận là có triển vọng hơn cả, bởi nó có các điều kiện cần và đủ cho việc h́nh thành và tích tụ các thân khoáng có giá trị thương mại.

- Vàng đă được phát hiện ở nhiều nơi song hàm lượng thấp, quy mô nhỏ. Chúng chỉ được xem là khoáng vật đi kèm, có thể thu hồi trong quá tŕnh khai thác các mỏ titan-zircon. Riêng vùng Vạn Giă - Đầm Môn, Tam Kỳ có triển vọng hơn, do có liên quan đến nguồn cung cấp là các mạch thạch anh sulfur khu vực ven biển.

- Thiếc đă được phát hiện qua nhiều mẫu trọng sa, hàm lượng không cao, tuy nhiên trong các mẫu khả tuyển cho thấy thiếc được coi là khoáng vật đi kèm có thể thu hồi kết hợp khi khai thác một vài mỏ titan-zircon sa khoáng ở ven biển miền Trung. Khu vực phía bắc bán đảo Ḥn Gốm được xem là vùng có triển vọng sa khoáng thiếc, liên quan đến các khối granitoid chứa thiếc.

Đă xác định được 7 vùng có triển vọng nhất (loại A) và 18 vùng có triển vọng (loại B) về khoáng sản kim loại (sa khoáng Ti-Zr, có vàng, thiếc đi kèm), cụ thể được tŕnh bày trong các bảng sau:

Bảng 1.  Các vùng triển vọng loại A khoáng sản kim loại

Số hiệu

Tên vùng triển vọng nhất

Diện tích

(km2)

Loại khoáng sản

A1

Cửa Sót - Kỳ Anh

669,597

Sa khoáng ilmenit-zircon

A2

Thuận An - Hải Vân

534,677

Sa khoáng ilmenit-zircon

A3

B́nh Hải - Dung Quất

360,881

Sa khoáng vàng-thiếc

A4

Mũi Sừng Trâu - Mũi La Gan

304,205

Sa khoáng vàng

A5

B́nh Nhơn - Phan Thiết

321,567

Sa khoáng ilmenit-zircon, cassiterit

A6

Kê Gà - Nam Hàm Tân

340,73

Sa khoáng ilmenit-zircon, cassiterit

A7

B́nh Châu - Long Hải

490,5

Sa khoáng ilmenit-zircon

Trên cơ sở các kết quả nêu trên, chúng tôi đă tiến hành điều tra địa chất, khoáng sản ở tỷ lệ 1/100.000, 1/50.000 cho một số vùng biển, kết quả như sau:

* Vùng biển Nam Trung Bộ (0-30 m nước): Kết quả điều tra đă xác định được:

- 9 vùng triển vọng khoáng sản kim loại (loại A) với tổng tài nguyên dự báo (TNDB) là 18,661 triệu tấn quặng tổng (Ti-Zr-TR, có vàng, thiếc đi kèm). Các vùng này tập trung chủ yếu ở các vùng biển B́nh Thuận, bán đảo Ḥn Gốm. Hàm lượng trung b́nh tổng khoáng vật quặng Ti-Zr-TR trong các vùng triển vọng dao động từ 5.899 đến 29.570 g/m3, trong đó có 5 vùng thuộc vùng biển B́nh Thuận với tổng tài nguyên dự báo khoảng 10 triệu tấn quặng tổng, là các khu vực cần được điều tra, nghiên cứu chi tiết để có thể tiến hành thăm ḍ, khai thác.

- 14 vùng triển vọng khoáng sản kim loại (loại B) với tổng TNDB là 17,969 triệu tấn quặng tổng (Ti-Zr-TR, có vàng và thiếc đi kèm). Các vùng này tập trung chủ yếu ở vùng biển B́nh Thuận. Hàm lượng trung b́nh tổng khoáng vật quặng Ti-Zr-TR dao động từ 1.459 đến 4.398 g/m3.

* Các vùng biển Hải Pḥng - Quảng Ninh, Phú Quốc - Hà Tiên, Sóc Trăng: Kết quả điều tra cho thấy ít có triển vọng sa khoáng Ti-Zr-TR.

Đối với vùng biển ở độ sâu 30-100 m nước, trong năm 2008, chúng tôi đă điều tra ở tỷ lệ 1/500.000 cho hai vùng biển Tây Nam và Trà Cổ - Cửa Nhượng. Kết quả cho thấy các khu vực này nh́n chung ít có triển vọng về sa khoáng Ti-Zr-TR.

b. Khoáng sản phi kim

Kết quả điều tra địa chất khoáng sản ở vùng biển 0-30 m tỷ lệ 1/500.000 cho thấy:

- Cát thuỷ tinh, cát sạn vật liệu xây dựng (VLXD), đất sét có ở nhiều nơi nhưng có giá trị hơn cả phải là các diện tích nằm trong vùng phát triển các đá giàu thạch anh có độ bền cơ học cao như các đá trầm tích cát kết, cuội sạn kết, ... vùng biển Đông Bắc Bộ; các đá phun trào, xâm nhập axit vùng biển Trung Bộ.

- Riêng vùng biển Nam Bộ các trường cát vật liệu san lấp - xây dựng phân bố rộng răi ở đáy biển (từ Vũng Tàu đến Sóc Trăng) rất thuận lợi cho việc khai thác bằng tàu hút.

- Đă xác định được 19 vùng triển vọng khoáng sản phi kim, cụ thể theo bảng sau:

Bảng 2. Các vùng có triển vọng (B) khoáng sản kim loại

Số hiệu

Tên vùng có triển vọng

Diện tích (km2)

Kiểu tích tụ

Loại khoáng sản

B1

Trà Cổ - B́nh Ngọc

38,2372

Tích tụ hiện đại

Ilmenit-zircon

B3

Đông Bạch Long Vĩ

112,659

Băi biển cổ

Ilmenit-zircon

B4

Cồn ngầm Đồ Sơn (tây Bạch Long Vĩ)

128,571

Băi biển cổ

Ilmenit-zircon

B5

Ninh Cơ - Bắc cửa Hội

543,396

Tích tụ hiện đại

Ilmenit-zircon

B6

Sầm Sơn - Nghi Sơn

885,886

Tích tụ hiện đại

Ilmenit-zircon

B7

Nam Cửa Hội - Cương Giản

186,207

Tích tụ hiện đại

Ilmenit-zircon

B7a

Đông Bắc vụng cổ Cẩm Xuyên

55

Băi biển cổ

Ilmenit-zircon

B8

Ba Đồn - Mỹ Hội

818,448

Tích tụ hiện đại

Ilmenit-zircon

B8a

Đông bắc cửa Thuận An

100

Băi biển cổ

Ilmenit-zircon

B9

Tây, Tây nam Cù Lao Chàm

435,594

Bẫy sa khoáng eluvi-aluvi trên đá gốc

Ilmenit-zircon

B10

Đông, Đông nam đầm An Khê

102,367

Bẫy sa khoáng eluvi-aluvi trên đá gốc

Ilmenit-zircon

B11

An Đủ - Cát Hải

473,114

Bẫy sa khoáng eluvi-aluvi trên đá gốc

Ilmenit-zircon

B12

Nhơn Lư - Nhơn Thành

70,726

Bẫy sa khoáng eluvi-aluvi trên đá gốc

Ilmenit-zircon

B13

Xuân Hoà - Xuân Phương

134,079

Bẫy sa khoáng eluvi-aluvi trên đá gốc

Ilmenit-zircon

B14

Đông Ḥn Gốm

159,173

Bẫy sa khoáng eluvi-aluvi trên đá gốc

Ilmenit-zircon, thiếc (?)

B15

Vạn Ninh

148,417

Bẫy sa khoáng eluvi-aluvi trên đá gốc

Vàng

B16

Ninh Vân - Vĩnh Thanh

185,749

Bẫy sa khoáng eluvi-aluvi trên đá gốc

Ilmenit-zircon

B17

Nam Chùm Găng

94,8436

Băi biển cổ

Ilmenit-zircon

Bảng 3. Các vùng có triển vọng khoáng sản phi kim (cát, sạn, sỏi, sét, cát thuỷ tinh...)

Số hiệu

Tên vùng có triển vọng

Diện tích  ( km2)

Loại khoáng sản

b1

Vĩnh Thực - Cái Chiên

59.516

Triển vọng cát, cuội, sạn quarzit

b2

Ba Mùn - Trà Bản - Phượng Hoàng

224.517

Triển vọng cát thuỷ tinh

b3

Đông Thượng Mai

314.886

Triển vọng cát xây dựng, san lấp

b4

TN máng Long Châu

622.232

Triển vọng cát san lấp

b5

Nam băi cạn Sầm Sơn

204.086

Triển vọng cát, sạn

b6

ĐN Ḥn Mắt

153.578

Triển vọng cát xây dựng, san lấp

b7

Băi cạn Cửa Việt

389.884

Triển vọng cát xây dựng, san lấp

b8

Bắc băi cạn Cửa Việt

113.637

Triển vọng cát xây dựng, san lấp

b9

B́nh Châu - Long Hải

561.731

Triển vọng cát xây dựng, san lấp

b10

TN Vũng Tàu

389.463

Triển vọng cát, sạn

b11

ĐN cửa Hàm Luông

924.45

Triển vọng cát, sạn

b12

ĐB Côn Đảo

442.578

Triển vọng cát san lấp

b13

TB Côn Đảo

449.978

Triển vọng đất sét làm gạch ngói

b14

Tây Côn Đảo

189.043

Triển vọng cát san lấp

b15

Nam Côn Đảo

483.405

Triển vọng cát san lấp

b16

ĐN Vĩnh Châu

109.999

Triển vọng cát sạn

b17

Bắc Ḥn Rái - Ḥn Tre

495

Triển vọng cát sạn

b18

Nam cồn ngầm Bảy Háp

821

Triển vọng đất sét làm gạch ngói

b19

ĐB Ḥn Khoai

110

Triển vọng cát san lấp

         Trên cơ sở các kết quả nêu trên, chúng tôi đă tiến hành điều tra địa chất - khoáng sản ở tỷ lệ 1/100.000, 1/50.000 cho một số vùng biển, kết quả cho thấy:

* Vùng biển Nam Trung Bộ: đă xác định được:

- 8 vùng triển vọng VLXD loại A (tập trung ở vùng biển tỉnh B́nh Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu) với tổng tài nguyên dự báo là 36,225 tỷ m3.

- 10 vùng triển vọng VLXD loại B (phân bố rải rác trong vùng) với tổng tài nguyên dự báo (TNDB) là 10,489 tỷ m3.

* Vùng biển Sóc Trăng: đă xác định được 7 vùng triển vọng VLXD với tổng TNDB khoảng 8,15 tỷ m3, cụ thể:

- 1 vùng triển vọng VLXD loại A (đông bắc Côn Đảo) với TNDB là 1,958 tỷ m3.

- 6 vùng triển vọng VLXD loại B (phân bố ở độ sâu 20-30 m nước) với TNDB là 6,192 tỷ m3.

* Vùng biển Hải Pḥng - Quảng Ninh và Bạch Long Vĩ:

- 2 vùng triển vọng VLXD loại A (vùng biển quanh đảo Bạch Long Vĩ) với TNDB là 0,3528 tỷ m3.

- 5 vùng triển vọng VLXD loại B (phân bố ở các vùng biển Cô Tô, Quán Lạn) với TNDB là 1,082 tỷ m3.

Tổng TNDB cho vùng biển Hải Pḥng - Quảng Ninh, Bạch Long Vĩ là: 1,4348 tỷ m3.

* Vùng biển Phú Quốc - Hà Tiên: đă khoanh định được 3 vùng triển vọng VLXD loại B (khu vực ĐN đảo Phú Quốc, quần đảo Hải Tặc) với tổng TNDB là 0,844 tỷ m3.

Đối với vùng biển có độ sâu 30-100 m nước, cũng đă khoanh định và tính TNDB của VLXD trên cơ sở điều tra tỷ lệ 1/500.000 cho các vùng biển như sau:

* Vùng biển Tây Nam: xác định được 1 vùng triển vọng VLXD loại C ở khu vực tây quần đảo Thổ Chu, TNDB là 13,760 tỷ m3.

* Vùng biển Trà Cổ - Cửa Nhượng: đă khoanh được 3 vùng triển vọng VLXD loại B (khu vực ĐN đảo Bạch Long Vĩ, nam cửa Ba Lạt) với TNDB là 15,96 tỷ m3.

2.3. Đặc điểm địa chất môi trường và tai biến địa chất

a. Đặc điểm địa chất môi trường:

- Các yếu tố chính quyết định hiện trạng địa chất môi trường vùng biển ven bờ Việt Nam là cấu trúc địa chất, hệ thống đứt găy, chế độ địa động lực, đặc biệt là chế độ địa động lực hiện đại, nền thạch học, đặc trưng địa h́nh đường bờ và đáy, hệ thống các đảo, các yếu tố và quá tŕnh khí tượng hải văn (thuỷ triều, gió, sóng, ḍng chảy, sương mù...) cũng như các hoạt động nhân sinh. Kết quả đánh giá tổng hợp cho thấy những hoạt động khai thác tài nguyên: phá rừng ngập mặn, quai đê lấn biển, nuôi trồng thuỷ sản, hoạt động giao thông, bến cảng là những hoạt động có ảnh hưởng mạnh nhất đến môi trường địa chất đới ven biển.

- Vùng biển ven bờ Việt Nam đa dạng về địa h́nh và trầm tích đáy biển, thuỷ-thạch động lực, tương tác địa quyển - sinh quyển, tương tác sông-biển, ... nên có các đặc điểm địa hoá môi trường khác biệt;

- Dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến địa chất môi trường, tai biến, ô nhiễm môi trường, khả năng sử dụng môi trường địa chất, có thể chia đới ven biển Việt Nam ra 10 vùng địa chất môi trường như sau: Móng Cái - Hải Pḥng , Hải Pḥng - Nga Sơn, Nga Sơn - Đèo Ngang, Đèo Ngang - Bán đảo Sơn Trà, Bán đảo Sơn Trà - Mũi An Hoà, Mũi An Hoà - Cửa Đà Rằng, Cửa Đà Rằng - Cà Ná, Cà Ná - Vũng Tàu, Vũng Tàu - Cà Mau, và Cà Mau - Hà Tiên.

b. Tai biến địa chất

a. Tai biến động lực: Vùng nghiên cứu là vùng nhạy cảm với các tai biến địa chất, đặc biệt là các tai biến sau:

- Động đất, nứt đất (Hải Pḥng - Móng Cái, Nga Sơn - Hải Pḥng, Cửa Đà Rằng - Cà Ná, Hà Tiên - Cà Mau...), sóng thần (Vũng Tàu - Cà Mau).

- Hoạt động núi lửa (Cửa Đà Rằng - Cà Ná).

- Hoạt động nâng-hạ làm biến động luồng lạch (Hải Pḥng - Móng Cái, Đèo Ngang - Sơn Trà, Hà Tiên...).

- Xói lở - bồi tụ (Hải Hậu, Phan Thiết, Gành Hào, Phú Quốc...).

- Sập lở, đổ lở (Cát Bà, Cù Lao Dung, Gành Hào, Hà Tiên, Phú Quốc...).

- Cát di động, cát chảy (Quảng B́nh, Quảng Trị, Phan Thiết...).

- Băo, lũ lụt và nước dâng do băo (toàn vùng, nhất là Hải Pḥng - Móng Cái, Nga Sơn - Hải Pḥng).

- Nhiễm mặn (châu thổ Sông Hồng, đồng bằng Cửu Long, miền Trung...).

- Dâng cao mực nước biển (toàn dải đất thấp ven biển).

b. Tai biến địa hóa (ô nhiễm môi trường):

- Vùng biển ven bờ Việt Nam là nơi tiếp nhận mọi nguồn chất thải từ các hoạt động nhân sinh trong lục địa (công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, khai thác khoáng sản...). Mặt khác, các thành tạo trầm tích trong vùng lại thuận lợi cho việc lưu giữ các độc tố, do vậy môi trường trầm tích vùng ven biển Việt Nam có nguy cơ ô nhiễm ở một số vùng bởi các nguyên tố kim loại nặng như Cu, Pb, Zn, Cd, As, Hg, Sb và có biểu hiện ô nhiễm các hoá chất trong thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt là ở vùng biển ven bờ đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Cửu Long. Ngoài ra, tại một số vùng cửa sông (sông Tiền, sông Hậu, sông Hồng, sông Thái B́nh...) trầm tích biển c̣n bị ô nhiễm bởi dầu, rác thải rắn, than (Quảng Ninh)... Sự ô nhiễm môi trường trầm tích tại các nơi đó đă và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển ven bờ.

- Cũng như môi trường trầm tích, môi trường nước biển ven bờ Việt Nam cũng đang bị ô nhiễm bởi các nguyên tố kim loại như Cu, Pb, Zn, As, Cd, Hg, Sb, đặc biệt là tại các khu vực cửa sông (Bạch Đằng, Ba Lạt, Trần Đề, Định An, Cung Hầu,...). Do nước biển đới ven bờ lưu thông tương đối tốt nên tiềm năng ô nhiễm môi trường nước bởi dầu, hoá chất ở thuốc bảo vệ thực vật và rác thải nhẹ hơn trong trầm tích.

Trong số các tai biến địa chất đă xác định được, gồm xói lở, bồi tụ, động đất, trượt lở, hoạt động núi lửa, nhiễm mặn, sóng cát và ô nhiễm kim loại nặng, th́ tai biến do xói lở, bồi tụ đang được quan tâm nhất, tiếp theo là quá tŕnh nhiễm mặn, nước biển dâng, tích tụ kim loại  nặng như arsen, thủy ngân, đồng, ch́, kẽm, cadmi ở một số cửa sông. Đây là những thông tin đang được nhiều người quan tâm, đặc biệt là có ư nghĩa đối với công tác quản lư nhà nước, phát triển kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, đồng thời cũng có ư nghĩa lớn trong việc nâng cao chất lượng sống của người dân.

VĂN LIỆU

1. International Seabed Authority, 2000. Global non-living resources on the extended continental shelf: Prospects at the year 2000. UN, New York.

2. Ministry of Natural Resources of the Russian Federation, 1998. Explanatory note of the Metallogenic Map of the World Ocean. Moskva.

3. Nguyễn Biểu, Nguyễn Thị Kim Hoàn, 1985. Địa chất và khoáng sản rắn ven biển Việt Nam. Báo cáo Đề tài 48.06.06. Lưu trữ ĐC, Hà Nội. 

4. Nguyễn Biểu, Vũ Trường Sơn, Dương Văn Hải và nnk, 2001. Địa chất khoáng sản biển nông ven bờ (0-30 m nước) Việt Nam tỷ lệ 1/500.000. Lưu trữ ĐC, Hà Nội.

5. Nguyễn Biểu, Dương Văn Hải, Lê Văn Học, 2003. Cát sạn đáy biển nông Việt Nam: Triển vọng và khả năng khai thác sử dụng, TC Địa chất, A/277 : 28-37. Hà Nội.

6. Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, 1998. Tuyển tập Báo cáo khoa học HNKH Công nghệ Biển lần thứ IV. Hà Nội.

7. Viện Hải dương học, 2001. Tuyển tập Báo cáo khoa học HNKH Biển Đông. Nxb Khoa học TP HCM.

8. UN Industrial Development Organization, 1992. Deep seabed mineral mining and related technology: A status report. UN, New York.