NGHIÊN CỨU TAI BIẾN ĐỘNG ĐẤT Ở VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP TẤT ĐỊNH MỚI 

CAO Đ̀NH TRIỀU1, FRANCO V.2, NGUYỄN HỮU TUYÊN1, NGUYỄN THẾ HÙNG1

1Viện Vật lư Địa cầu, Viện KH&CN Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội;

2Đại học tổng hợp Trieste, Italia

 

Tóm tắt: Trong khuôn khổ công tŕnh này, các tác giả bước đầu đă ứng dụng phương pháp tất định mới trong nghiên cứu tai biến động đất ở Việt Nam. Kết quả cho thấy:

- Động đất với chấn cấp cực đại (Mmax) trên lănh thổ Việt Nam có thể chỉ nằm ở mức 6,5-7,0 độ Richter và chủ yếu tập trung tại Tây Bắc Bộ;

- Phân bố gia tốc nền DGA, sử dụng phổ thiết kế của EC8 cho nền đất loại A đạt giá trị tối đa 0,15-0,30 g tại khu vực có tính địa chấn cao (1 g = 980 cm/s2), trong khi phân bố giá trị vận tốc cực đại theo phương nằm ngang của Vmax đạt giá trị cực đại 15,0-30,0 cm/s và phân bố thành phần dịch chuyển ngang của dao động nền Dmax đạt tối đa 7,0-15,0 cm.


I. MỞ ĐẦU

Thông thường, quy tŕnh xác định các đặc trưng cơ bản của tai biến động đất tại một khu vực nghiên cứu nào đó được tiến hành theo tuần tự 4 bước sau: Bước 1- Xác định vùng nguồn phát sinh động đất và quan hệ giữa vị trí xác định thông số tai biến động đất (vị trí công tŕnh) với vùng nguồn phát sinh động đất; Bước 2- Sử dụng phép truy toán động đất, xác định giá trị chấn cấp cực đại động đất có thể xảy ra tại các nguồn phát sinh; Bước 3- Thiết lập đặc trưng dao động nền theo các hàm tắt dần chấn động (attenuation relations); và  Bước 4- Xác định gia tốc dao động nền tại công tŕnh.

Có hai dạng phương pháp đánh giá các thông số của tai biến động đất đại diện cho hai định hướng phân tích tương ứng là phân tích thống kê và phương pháp tất định.

Phương pháp phân tích thống kê được ứng dụng rộng răi trong nghiên cứu động đất từ những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ XX sau khi mạng lưới quan trắc động đất toàn cầu đă phát triển mạnh mẽ. Trên thực tế, mạng lưới quan trắc này lại phát triển không đồng đều cho tất cả các nước trên thế giới. Một nghịch lư là các nước nghèo thường phải sống trong khu vực có nguy cơ sinh chấn cao lại có mạng lưới quan sát động đất thưa thớt.

Trước những năm 1980, phương pháp tất định được sử dụng rộng răi trong nghiên cứu động đất khi số liệu toàn cầu c̣n kém đầy đủ, gây nên sai số lớn cho các bài toán thống kê. Việc các trận động đất mạnh xảy ra trên thế giới trong thời gian gần đây như: động đất Spitak (Armenia) ngày 7/12/1988, động đất Kobe (Nhật Bản) ngày 17/1/1995, động đất Thổ Nhĩ Kỳ ngày 17/8/1999, động đất Chichi (Đài Loan) ngày 21/9/1999, động đất Sumatra ngày 26/12/2004, v.v..., đă không được báo trước gây nên sự hoài nghi về tính hiệu quả của các bài toán thống kê trong động đất. Điều này đă thúc đẩy việc tái phát triển định hướng phân tích tất định trong nghiên cứu động đất, gọi là các phương pháp tất định mới (neodeterministic methods).

  Sự khác biệt lớn nhất giữa phân tích xác suất thống kê và tất định mới là ở chỗ trong khi phương pháp xác suất thống kê sử dụng phép truy toán (bước 2) trong việc xác định động đất cực đại tại vùng nguồn th́ phương pháp tất định mới lại đưa ra những kịch bản về chấn cấp động đất được ấn định trên cơ sở đặc trưng cấu trúc của vùng nguồn.

- Gia tốc đỉnh điểm (peak acceleration) của dao động nền (bước 3) trong phương pháp xác suất thống kê được xác lập trên cơ sở các giá trị chấn cấp động đất tương ứng với các thời kỳ khác nhau và hàm suy giảm dao động thực tế quan sát được qua các động đất cụ thể có điều kiện và chấn cấp tương tự đối với khu vực nghiên cứu. Giá trị gia tốc này trong phương pháp tất định mới lại được tính toán theo một hàm cụ thể, dựa vào cấu trúc và đặc trưng tính chất vật lư của vùng nguồn.

Một số công tŕnh nghiên cứu gần đây ở Việt Nam về động đất chủ yếu sử dụng cách tiếp cận của các bài toán thống kê [4, 7-9]. Hạn chế lớn nhất theo định hướng phân tích thống kê là khoảng thời gian thống kê của chuỗi số liệu không đủ lớn. Với danh mục động đất chưa đầy đủ như của Việt Nam, phương pháp thống kê có thể sẽ đưa ra những kết quả với độ tin cậy không cao. Nhằm khắc phục những hạn chế về hiệu quả của bài toán thống kê, các tác giả thử nghiệm áp dụng phương pháp tất định mới trong đánh giá một số thông số về tai biến động đất ở Việt Nam.

II. NGUYÊN LƯ CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP TẤT ĐỊNH MỚI

Có hai mức độ tính toán các thông số của tai biến động đất: khu vực (hay c̣n gọi là phân vùng loại I) và chi tiết (c̣n gọi là phân vùng loại II, thường được áp dụng cho vi phân vùng động đất một thành phố hay một công tŕnh xây dựng cụ thể). Trong khuôn khổ bài báo này chúng tôi chỉ giới thiệu một số kết quả đánh giá các thông số tai biến động đất ở mức phân vùng loại I.

1. Phương pháp tất định mới trong phân vùng địa chấn tỷ lệ khu vực (phân vùng loại I)

Phân vùng địa chấn khu vực c̣n được gọi là phân vùng loại I, phân chia vùng theo tỷ lệ khu vực. Trong trường hợp này, người ta sử dụng giá trị trung b́nh trong mô tả tính chất khu vực của thạch quyển. Các thông số như: vận tốc, mật độ, đặc trưng cấu trúc các mặt ranh giới cơ bản, tính chất của đứt găy, cơ cấu chấn tiêu … của môi trường cần được xác định. Băng địa chấn tổng hợp được tính toán, các cấu trúc bất đồng nhất dưới dạng thô ở lân cận được đưa vào trong tính toán. Quy tŕnh thiết lập băng địa chấn tổng hợp và tính toán các thông số dao động nền được mô tả. Dữ liệu quan trọng đầu tiên trong xác định nguồn phát sinh động đất là danh mục động đất. Về cơ bản, cần thiết nhất là phải có phân bố Mmax trên toàn lănh thổ. Dữ liệu động đất sẵn có trong danh mục động đất là phân bố ngẫu nhiên. Hơn nữa, danh mục động đất thường kém hoàn chỉnh và có sai số, v́ vậy chúng ta cần làm trơn phân bố Mmax [8, 10].

Vùng nghiên cứu được phân chia theo lưới ô vuông 0,20×0,20. Băng địa chấn tổng hợp được thiết lập cho tần số cao hơn 1 Hz và xấp xỉ nguồn điểm. Để giảm khối lượng tính toán băng địa chấn, khoảng cách nguồn thu phải giữ dưới một ngưỡng, được xác định bởi hàm của M trong mối quan hệ với nguồn. Khoảng cách lớn nhất từ nguồn đến máy thu là 25, 50, và 90 km tương ứng cho M<6, 6£M<7, và M³7. Tất cả các băng địa chấn được tính toán cho độ sâu chấn tiêu được xác định bởi hàm tương quan giữa M; 10 km đối với M<7 và 15 km với M³7), cũng có thể lấy một giá trị trung b́nh cho vùng nguồn dựa trên danh mục động đất đă có. Cũng có thể chấp nhận một loại giá trị độ sâu chấn tiêu nhất định đối với mỗi loại mức chấn cấp nhất định (phân loại theo M): đặc biệt quan trọng đối với động đất nông v́ sai số lớn trong xác định độ sâu chấn tiêu động đất, và trên thực tế th́ dao động nền mạnh lại gây ra bởi các trận động đất nông [1-3].

III. MỘT SỐ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TẤT ĐỊNH MỚI TRONG NGHIÊN CỨU TAI BIẾN ĐỘNG ĐẤT Ở VIỆT NAM

1. Phân chia đới phát sinh động đất lănh thổ Việt Nam và các khu vực kế cận

Việc xác định các đới phát sinh động đất lănh thổ Việt Nam được tiến hành tuần tự theo các bước sau [1-3]:

- Thiết lập các hệ thống đứt găy trong lănh thổ nghiên cứu trên cơ sở tổ hợp tài liệu địa chất, địa vật lư và các kết quả nghiên cứu về đặc trưng cấu trúc của vỏ Trái đất, trong đó có đề cập đến bất đồng nhất vận tốc truyền sóng;

- Xác lập các đới đứt găy hoạt động trên cơ sở các dấu hiệu biểu hiện hoạt động theo tài liệu địa chất, địa vật lư và các tai biến địa động lực đă xảy ra;

- Xác định nguồn phát sinh động đất trên cơ sở biểu hiện hoạt động động đất gắn liền với các đứt găy hoạt động;

- Liên kết nguồn có đặc trưng kiến trúc - địa động lực tương tự thành một đới phát sinh động đất. Đới phát sinh động đất có phạm vi bao phủ toàn bộ diện tích một hệ thống đứt găy (hay nhiều hệ thống đứt găy), trong đó đă xác định được sự tồn tại một hay nhiều vùng nguồn và có biểu hiện đặc trưng kiến trúc - địa động lực tương đồng.

a. Nguồn được xác lập trên cơ sở phân bố không gian của động đất và đặc trưng cấu trúc của đới đứt găy theo nguyên tắc sau [1-3]:

1- Độ dài được đánh giá theo công thức:

trong đó: MD - dịch chuyển cực đại, tính theo m (maximum displacement); AD - dịch chuyển trung b́nh tính theo m; L - chiều dài của đới phá huỷ trên bề mặt (km) (surface rupture length); L* - chiều dài đới phá huỷ lớp dưới bề mặt (km) (subsurface rupture length); W - chiều rộng của đới phá huỷ lớp dưới bề mặt (km) (subsurface rupture width); A là diện tích của đới phá huỷ (km2) (rupture area).

2- Ranh giới của vùng nguồn phải là đường biên trùng với dải có độ hoạt động địa chấn thấp nhất, nó không được cắt qua vùng tập trung dày đặc các chấn tâm động đất.

b. Đới phát sinh động đất được thiết lập trên cơ sở:

1- Tập hợp của các vùng nguồn tồn tại trong một hệ thống đứt găy (hay nhiều hệ thống đứt găy) có chung đặc trưng của cơ cấu chấn tiêu; đặc trưng chung nhất về cấu trúc và h́nh thái kiến trúc, h́nh động học và địa động lực của đứt găy.

2- Có sự tương đồng về đặc trưng thông số và trường địa vật lư, đặc trưng và mức độ cấu trúc phức tạp, đặc điểm biến dạng và địa động lực trong phạm vi một đới sinh chấn.

Đới phát sinh động đất chính ở lănh thổ Việt Nam và khu vực kế cận gồm [1-3]: Mường Tè với động đất đă quan sát thấy với chấn cấp 7,1 độ Richter (Ms = 7,1); Phong Sa Ĺ (Ms = 7,0); Ou Đom Xai (Ms = 6,8); Lai Châu - Điện Biên (Ms = 5,6); XiaoJiang (Ms = 6,8*; 7,5); Sông Hồng (Ms = 5,3); Sông Đà - Sơn La (Ms = 6,8); Sầm Nưa - Thái Ḥa (Ms = 6,8); Sông Cả - Rào Nậy (Ms = 5,5; 6,0); A Lưới - Thà Khẹt (Ms = 5,0; 6,0); Gia Lâm - Đồng Hới (Ms = 5,4); Bắc Giang - Hải Dương (Ms = 5,6); Quản Bạ - Bắc Cạn (Ms = 5,2); Cao Bằng - Lộc B́nh (Ms = 5,8); Nam Ninh (Ms = 5,5); Lingshan - Hạ Long (Ms = 6,8); Huyện Nhai - Văn Ninh (Ms = 7,5); Châu Giang (Ms = 6,8); Bắc Hoàng Sa (Ms = 6,0); Hoàng Sa (Ms = 5,9); Ba Tơ – Củng Sơn (Ms = 5,3; 6,0); Thuận Hải - Minh Hải (Ms = 4,5; 7,0**); Nam Côn Sơn (Ms = 6,1); Đông Phú Khánh (Ms = 5,9); Đông Biển Đông (Ms = 5,9); Guangzhou (Ms = 7,3; 7,0); Shabah (Ms = 6,0); Kiên Giang (Ms = 5,5), Đông Nam Thái Lan (Ms = 5,0), Malaysia (Ms = 4,9).

Ghi chú: * nếu chỉ tính trong khung bản vẽ th́ động đất cực đại quan sát được chỉ bằng 6,8 độ Richter; ** nếu sử dụng tài liệu của NOAA th́ cực đại động đất đới Thuận Hải - Minh Hải có thể là 7,0?.

2. Một số kết quả bước đầu đánh giá các thông số tai biến động đất phần đất liền lănh thổ Việt Nam trên cơ sở phương pháp tất định mới

Bắt đầu từ những thông tin về cấu trúc Trái đất, nguồn sinh chấn, và mức độ của tính địa chấn trong diện tích nghiên cứu chúng tôi đă tiến hành tính toán một số thông số về tai biến động đất trên cơ sở phần mềm GNDT.


                                                                                                                                                             

H́nh 1. Dịch chuyển nền cực đại (Dmax) phần đất liền lănh thổ Việt Nam.


Việc xác định Mmax, Amax, Vmax, Dmax được tiến hành cho phần đất liền lănh thổ Việt Nam và các khu vực kế cận trên cơ sở danh mục động đất có được từ 1900 đến hết năm 2007. Các kết quả tính toán được biểu hiện trong các h́nh từ số 1 đến 4 và cho thấy: động đất với chấn cấp cực đại (Mmax) trên lănh thổ Việt Nam chỉ nằm ở mức 6,5-7,0 độ Richter và chủ yếu tập trung tại Tây Bắc Bộ; phân bố DGA, sử dụng phổ thiết kế của EC8 cho nền đất A đạt giá trị tối đa 0,15-0,30 g tại các vùng có tính địa chấn cao (1 g = 980 cm/s2); phân bố thành phần ngang của Vmax đạt giá trị cực đại 15,0-30,0 cm/s; phân bố thành phần ngang của Dmax đạt tối đa 7,0-15,0 cm.

H́nh 2. Vận tốc dao động nền cực đại (Vmax) phần đất liền lănh thổ Việt Nam.

H́nh 3. Dao động nền thành phần giữa .sns.sew phần đất liền lănh thổ Việt Nam.

H́nh 4. Dao động nền thiết kế cực đại thành phần giữa .sns và .sew
phần đất liền lănh thổ Việt Nam.


IV. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Trên cơ sở bước đầu áp dụng phương pháp tất định mới trong nghiên cứu các thông số tai biến động đất lănh thổ Việt Nam ta có thể rút ra một số kết luận sau:

1. Động đất với chấn cấp cực đại (Mmax) trên lănh thổ Việt Nam nằm ở mức 6,5-7,0 độ Richter; khu vực Tây Bắc Bộ có Mmax = 6,5-7,0; c̣n Mmax = 6,0-6,5 chủ yếu tập trung ở đới Sông Cả - Rào Nậy và Nam Côn Sơn; động đất tại TP Hà Nội có Mmax = 5,5-6,0; các vùng c̣n lại có Mmax nhỏ hơn 5,5.

2. Phân bố gia tốc nền DGA, sử dụng phổ thiết kế của EC8 đối với nền đất loại A đạt giá trị tối đa 0,15-0,30 g tại vùng có tính địa chấn cao (1 g = 980 cm/s2) như vùng Điện Biên Đông (tỉnh Điện Biên), Sông Mă (tỉnh Sơn La), Hải Dương; 0,08-0,15 g tại vùng Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên), Điện Biên (tỉnh Điện Biên), và Cẩm Thuỷ (tỉnh Thanh Hoá). Các vùng Thanh Chương, Kỳ Anh, và Đô Lương ở tỉnh Nghệ An có giá trị DGA trung b́nh là 0,04-0,08 g; các vùng c̣n lại trên phạm vi đất liền lănh thổ Việt Nam có giá trị DGA nhỏ hơn 0,04.

3. Phân bố thành phần ngang của vận tốc (Vmax) đạt giá trị cực đại 15,0-30,0 cm/s tại các vùng Sông Mă, Mộc Châu (tỉnh Sơn La) và Hà Nội;  8,0-15,0 cm/s tại bắc Thanh Hoá, Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên); tại Nghệ An giá trị Vmax nằm trong giới hạn 4,0-8,0 cm/s. Các vùng c̣n lại có giá trị Vmax nhỏ hơn 4,0 cm/s.

4. Phân bố thành phần ngang của Dmax đạt tối đa 7,0-15,0 cm. Giá trị Dmax = 3,5-7,0 cm bao phủ các vùng thuộc các tỉnh Điện Biên, Sơn La và Thanh Hoá. Tại Nghệ An có giá trị Dmax = 1,0-2,0 cm.

VĂN LIỆU

1. Cao Đ́nh Triều (Chủ biên), 2006. Thiết lập những tiếp cận thích hợp để nghiên cứu dự báo động đất lănh thổ Việt Nam. BC tổng kết nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo nghị định thư Việt Nam - Italia (2004-2006). Lưu trữ Viện VLĐC, Hà Nội, 169 tr.

2. Cao Đ́nh Triều, Lê văn Dũng, Cao Đ́nh Trọng, 2008. Áp dụng phương pháp tất định mới trong nghiên cứu tai biến động đất ở Việt Nam. Báo cáo HTKH toàn quốc Tai biến địa chất và giải pháp pḥng chống, Tp. Hà Nội, tr. 31-43.

3. Cao Đ́nh Triều (Chủ biên), 2008. Nghiên cứu dự báo động đất mạnh khu vực Đông Nam Châu Á có nguy cơ gây sóng thần ảnh hưởng đến bờ biển và hải đảo Việt Nam. BC tổng kết nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo nghị định thư Việt Nam - Italia (2004-2006). Lưu trữ Viện VLĐC, Hà Nội,  222 tr.

4. Nguyễn Hồng Phương, 1997. Đánh giá động đất cực đại cho các vùng nguồn chấn động ở Việt Nam bằng tổ hợp các phương pháp xác suất. Các công tŕnh nghiên cứu ĐC và ĐVL biển, III : 48-65. Nxb KH&KT, Hà Nội.

5. Trần Thị Mỹ Thành, 2002. Đánh giá độ nguy hiểm địa chấn lănh thổ Việt Nam và lân cận. Luận án TS Toán-Lư, Hà Nội, 161 tr.

6. Nguyễn Đ́nh Xuyên, Nguyễn Ngọc Thủy, 1997. Tính động đất và độ nguy hiểm động đất trên lănh thổ Việt Nam. Thành tựu nghiên cứu VLĐC 1987-1997, tr. 34-91. Nxb KH&KT, Hà Nội.

7. Nguyễn Đ́nh Xuyên (Chủ biên), 2004. Báo cáo Nghiên cứu dự báo động đất và dao động nền lănh thổ Việt Nam. BC tổng kết Đề tài độc lập cấp Nhà nước 2000-2002. Lưu trữ Viện VLĐC, Hà Nội, 288 tr..

8. Nguyễn Đ́nh Xuyên (chủ biên), 2004. Danh mục động đất Việt Nam (114-2003). Trong BC tổng kết đề tài độc lập cấp Nhà nước 2000-2002 "Nghiên cứu dự báo động đất và dao động nền lănh thổ Việt Nam". Hà Nội, 115 tr..

9. Panza G.F., F. Romanelli, F. Vaccari, 2000. Seismic wave propagation in laterally heterogeneous anelastic media: theory and applications to seismic zonation, Trieste, pp. 122.

10. University of Trieste, 2004. GNDT Deterministic Seismic Zoning Referce Guide (Version 0.5.4). University of Trieste, pp.68.