NGHIÊN CỨU DỰ
BÁO TRUNG HẠN ĐỘNG ĐẤT Ở VIỆT
CAO
Đ̀NH TRIỀU1, PANZA G.F.2, CAO Đ̀NH
TRỌNG3, PHẠM
1Viện Vật lư Địa cầu,
Viện KH&CN Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu
Giấy, Hà Nội
2Đại học Tổng
hợp Trieste, Italia; 3Đại học Tổng
hợp Hữu nghị các Dân tộc, Moskva
Tóm
tắt: Trong khuôn khổ bài báo này, các tác giả
tŕnh bày một số kết quả bước đầu
thử nghiệm áp dụng thuật toán CN và M8S trong dự
báo trung hạn động đất ở Việt
1. Từ
năm 1964 đến 2002, trong phạm vi "Tây Bắc
Bộ mở rộng" có 4 trận động
đất với chấn cấp M ³ 5,5 (1966, 1972, 1983 và 1989) th́ có 3 trận:
1972, 1983 và 1989, đă nhận dạng được
với Mc = 3,0 và 3,4. Động đất với chấn
cấp M = 6,2 vào ngày 3/10/2003 tại tọa độ 21°27 B
và 101°51 Đ đă được dự báo trước
(sử dụng thuật toán CN).
2.
Một cảnh báo về nguy cơ xảy ra động
đất với M ≥ 5,5 có khả năng xuất
hiện từ năm 2008 được đưa ra
đối với khu vực “Tây Bắc Bộ mở
rộng” trên cơ sở danh mục động đất
từ 1964 đến 2005 (sử dụng thuật toán CN).
3.
Thuật toán M8 mở rộng (M8S) là thuật toán phù hợp
cho nghiên cứu dự báo trung hạn động
đất ở Việt Nam. Động đất
Tuần Giáo Ms = 6,7, xảy ra vào ngày 24/6/1983 đă nhận
dạng được trên cơ sở số liệu có
được đến năm 1980, với thời gian
cảnh báo là từ 1981 đến 1986.
4.
Với số liệu cập nhật đến hết
năm 2008, kết quả tính toán theo M8S cho thấy trong
khoảng thời gian từ 2009 đến 2013 trên phạm
vi khu vực Tây Bắc Bộ bao gồm các tỉnh Lai Châu,
Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái và tỉnh Vân Nam
(Trung Quốc) có thể có nguy cơ xảy ra động
đất với chấn cấp M > 6,5 (M6,5+).
I. MỞ ĐẦU
Nghiên
cứu dự báo trung hạn động đất
(tức là thời gian dự báo trong ṿng 5 đến 10
năm) lănh thổ Việt Nam chỉ được áp
dụng thử nghiệm bước đầu trên cơ
sở nhiệm vụ Nghị định thư giữa
Việt Nam và Italia: giai đoạn 2004-2006 “Thiết lập những tiếp cận thích hợp
để nghiên cứu dự báo động đất lănh
thổ Việt Nam”; và 2006-2008 “Nghiên
cứu dự báo động đất mạnh khu vực
Đông Nam Á có nguy cơ gây sóng thần ảnh hưởng
tới bờ biển và hải đảo Việt Nam”.
Một số kết quả sơ bộ đă
được công bố trong [1, 2]. Hai phương pháp
chính được đưa vào thử nghiệm dự
báo trung hạn động đất là: CN và M8S.
Thuật
toán CN được đặc trưng bởi 9 hàm
số: N1(t), N3(t), K(t), G(t), S(t), Smax(t), Zmax(t), q(t), B(t) [8, 9]. Các hàm số này đánh
giá sự thay đổi hoạt tính địa chấn
(seismic activity), yên tĩnh địa chấn (seismic
quiescence), đặc trưng phân bố không gian và thời
gian của hoạt tính địa chấn và mật
độ động đất (tính tập trung của
động đất). Đặc biệt, hàm G mô tả
phần đóng góp của các động đất có
chấn cấp lớn hơn vào tần suất
động đất; K và q mô tả sự thay đổi
của tần suất động đất theo thời
gian và yên tĩnh địa chấn; hàm N1 và N3
được sử dụng để mô tả mức
độ hoạt động địa chấn, trong khi
hàm số B lại là một đại lượng
đặc trưng cho tính tập trung của động
đất theo không gian và thời gian (dựa trên số
đếm dư chấn). Giá trị S tương ứng
với năng lượng địa chấn
được giải phóng; Smax là diện tích trung b́nh
của vùng nguồn; cuối cùng Zmax đặc trưng cho
kích thước của vùng nguồn.
M8 là
thuật toán dự báo trung hạn động đất,
được V.I. Keilis-Borok và V.G. Kosobokov phát triển trên
cơ sở dấu hiệu nhận dạng những
trận động đất mạnh đă xảy ra trong
quá khứ để dự báo nguy cơ phát sinh động
đất mạnh trong tương lai [3-7]. Thuật toán M8
mở rộng (M8S) lần đầu tiên được áp
dụng trong nghiên cứu dự báo trung hạn động
đất tại Italia. Độ
lớn của động đất dự báo
được lấy ở hai mức là M0 = 6,0; M0
= 6,5 và thời gian dùng để mô phỏng dự báo là
từ năm 1972 đến 1995. Số ṿng tṛn và bán kính
khảo sát đối với các mức dự báo
tương ứng là: 14 CI's với R = 192 km cho M0 =
6,5; và 16 CI's với R = 138 km cho M0 = 6,0.
Trong khuôn khổ bài báo này, các tác giả sẽ giới
thiệu nội dung cơ bản của CN và M8S và kết
quả bước đầu nghiên cứu dự báo trung
hạn động đất ở Việt Nam. Cũng
cần nói rằng, do số liệu động đất
ở Việt Nam c̣n thưa thớt, khó đáp ứng được
việc áp dụng CN và M8S chung cho toàn lănh thổ. Chúng tôi
chỉ chọn được khu vực hẹp (φ = 18-240,
λ = 101-1080), tạm gọi là Tây Bắc Bộ mở
rộng để áp dụng thử nghiệm trong tính toán.
II. ÁP DỤNG THUẬT TOÁN CN NGHIÊN CỨU DỰ BÁO TRUNG
HẠN ĐỘNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
1. Chọn vùng
dự báo trung hạn động đất
Vùng
dự báo được xác lập trên cơ sở sự
phân bố không gian của động đất và
đặc trưng phân bố của các hệ đứt
găy theo nguyên tắc chung sau:
1- Kích
thước độ dài không nhỏ hơn 5L-10L, trong
đó L = L(M0) là chiều dài của đới phá
huỷ của động đất có cấp độ
lớn M0, đánh giá theo công thức của Wells and
Coppersmith, 1994;
2- Ranh
giới của vùng nghiên cứu phải là đường
biên trùng với dải có độ hoạt động
địa chấn thấp nhất, không được
cắt qua vùng tập trung dày đặc các chấn tâm
động đất.
3-
Tối thiểu có 3 trận động đất xảy
ra trong vùng có chấn cấp vượt quá ngưỡng
của danh mục động đất đầy
đủ.
2. Chọn danh mục động
đất đầy đủ và ngưỡng độ
lớn dự báo
Tính
đầy đủ của một danh mục động
đất được biểu hiện rơ nét trên
biểu đồ phân bố động đất trung
b́nh năm theo các mức độ lớn khác nhau. Xây
dựng biểu đồ phân bố này theo danh mục
động đất Việt Nam cho thời kỳ 1900-2003
ta thấy rằng khoảng thời gian từ 1963
đến 2003 là giai đoạn có số liệu
động đất đầy đủ nhất [1].
Phân tích
biểu đồ Gutenberg-Richter giữa tần số và
chấn cấp động đất cho phép ta xác
định được giới hạn dưới
của chấn cấp động đất cho một
danh mục đầy đủ, Mc = 3,0; 3,2; 3,4; và 3,6.
Ngưỡng
dự báo M0 được lựa chọn sao cho
đáp ứng được hai điều kiện cùng
một lúc: 1. Có tối thiểu một trận động
đất với M ³ M0
xuất hiện trong vùng dự báo trong ṿng 6 năm; 2. M ³ M0 là đoạn
biểu đồ chấn cấp - số trận
động đất (biểu đồ Gutenberg-Richter)
chạy sát nhau. Ta xác định đối với vùng
dự báo "Tây Bắc Bộ mở rộng" có M0
= 5,5 (H́nh 1).
3. Sử dụng phần mềm CN dự báo trung hạn động
đất ở "Tây Bắc Bộ mở rộng"
a. Tính
toán dự báo động đất ở “Tây Bắc
Bộ mở rộng” thời kỳ 1964-2002: Danh mục động đất "Tây
Bắc Bộ mở rộng" được xác
định theo ba thời kỳ khác nhau là: 1964-2002; 1978-2002
và 1990-2006.
Kết
quả phân tích được biểu diễn trong các
Bảng 1 và 2.
Trên cơ sở kết
quả tính toán được biển diễn trong Bảng
2, ta thấy rằng kết quả tốt nhất thu
được với Mc = 3,4; có 3/4 trận động
xảy ra tại "Tây Bắc Bộ mở rộng"
trong thời gian 1964-2002 đă được dự báo chính
xác. Một cảnh báo từ năm 2000 đến 2005
được đưa ra.
2.
Tính toán dự báo động đất khu vực “Tây
Bắc Bộ mở rộng” thời kỳ 1990-2006
Trên
cơ sở bước đầu áp dụng thuật toán
CN trong nghiên cứu dự báo trung hạn động
đất khu vực “Tây Bắc Bộ mở rộng”có
thể rút ra một số nhận xét sau:
1.
Từ năm 1964 đến 2002 trong phạm vi "Tây
Bắc Bộ mở rộng" đă dự báo
được 3 trận động đất (1972, 1983,
1989) với Mc = 3,0 và 3,4. Ba trận động đất
này tương ứng với 3 trong 4 trận động
đất với M ≥5,5 đă xảy ra trong khu vực
(1966, 1972, 1983 và 1989). Có lẽ trận năm 1966 chưa
đủ số liệu của danh mục trước
đó nên không dự báo được. Một cảnh báo
về nguy cơ xảy ra động đất lớn
hơn hoặc bằng 5,5 có khả năng xuất hiện
trong thời kỳ 2000-2005 được đưa ra.
2.
Từ năm 1978 đến hết năm 2002, trong phạm
vi "Tây Bắc Bộ mở rộng" đă dự báo
được 2 trận động đất với Mc =
3,4 và 3,6, tương ứng với 2 trận động
đất với M ³ 5,5 đă xảy ra vào năm 1983 và 1989. Một cảnh
báo về nguy cơ xảy ra động đất lớn
hơn hoặc bằng 5,5 có khả năng xuất hiện
trong thời kỳ 2000-2005 được đưa ra.
Nếu kéo dài danh mục đến hiện tại th́
năm 2003 đă xảy ra một trận động
đất với M = 6,2 độ Richter vào ngày 3/10/2003
tại tọa độ 21,27 B và 101,51 Đ.
Bảng 1. Các trận động
đất chính ở "Tây Bắc
Bộ mở rộng"
với M ³ 5,5 (1964-2002)
|
Thời điểm |
Vĩ tuyến (B) |
Kinh tuyến (Đ) |
Độ sâu |
Chấn cấp |
|
18/9/1966 |
22.6 |
102.3 |
0 |
5.6 |
|
23/1/1972 |
23.3 |
102.3 |
33 |
5.6 |
|
24/6/1983 |
21.77 |
103.4 |
23 |
6.7 |
|
16/6/1989 |
20.67 |
102.36 |
15 |
5.9 |
Bảng 2. Kết quả tính toán bằng phần mềm CN cho
vùng “Tây Bắc Bộ mở rộng”
theo số liệu có
được đến năm 2002
|
1964-2002 |
||||||
|
Thời gian |
Thời kỳ xem xét |
Mc |
n/N |
% TIPs |
(N-n)/N % |
(h +t) % |
|
1960-2002 |
1964-2002 |
3,0 |
2/4 |
24,1 |
50 |
74,1 |
|
1960-2002 |
1964-2002 |
3,2 |
2/4 |
21,4 |
50 |
71,4 |
|
1960-2002 |
1964-2002 |
3,4 |
3/4 |
26,1 |
25 |
51,1 |
|
1960-2002 |
1964-2002 |
3,6 |
2/4 |
36,7 |
50 |
86,7 |
|
1978-2002 |
||||||
|
1974-2002 |
1978-2002 |
3,0 |
1/2 |
21,1 |
50 |
71,1 |
|
1974-2002 |
1978-2002 |
3,2 |
1/2 |
24,5 |
50 |
74,5 |
|
1974-2002 |
1978-2002 |
3,4 |
2/2 |
22,5 |
0 |
22,5 |
|
1974-2002 |
1978-2002 |
3,6 |
2/2 |
30,9 |
0 |
30,9 |

H́nh 1. Phân bố động
đất (M ≥ 3,0) khu vực nghiên cứu dự báo.
3. Từ năm 1990
đến tháng 6/2006 trong phạm vi "Tây Bắc Bộ
mở rộng" đă dự báo được 1
trận động đất (2003) với Mc = 3,0; 3,2, 3,4
và 3,6; trận này tương ứng với 1 trong 2 trận
động đất với M ≥ 5,3 đă xảy ra
trong khu vực "Tây Bắc Bộ mở rộng"
(2001, 2003). Trận động đất năm 2001 (Thin
Tóc) không dự báo được (M = 5,3). Một cảnh
báo về nguy cơ xảy ra động đất với
Mc lớn hơn hoặc bằng 5,5 có khả năng
xuất hiện từ năm 2008 được đưa
ra (H́nh 2).
Bảng 3. Các trận động đất chính
ở khu vực “Tây Bắc Bộ mở rộng” với M ≥
5,3
(từ năm 1990 đến 6/2006)
|
Thời gian |
Vĩ độ (B) |
Kinh độ (Đ) |
Độ sâu |
Chấn cấp |
|
19/2/2001 |
21.33 |
102.85 |
12 |
5.3 |
|
3/10/2003 |
21.27 |
101.51 |
33 |
6.2 |

H́nh 2. Dự
báo trung hạn động đất với M ≥ 5,3 khu
vực “Tây Bắc Bộ mở rộng”
trên cơ sở số
liệu thời kỳ 1990-6/2006
Ghi chú:Với Mc = 3,4
tổng số có ½ số trận động đất
được dự báo và một cảnh báo động
đất năm 2008 được công bố.
4.
Một số điểm cần lưu ư khi sử dụng
thuật toán CN trong dự báo động đất như
sau: độ dài danh mục động đất trước
cảnh báo đ̣i hỏi đủ lớn, cỡ 5-10
năm, tối thiểu là 5 năm với độ tin
cậy số liệu cao, đạt Mc = 3,0 đến 3,4;
đối với lănh thổ Việt Nam th́ chỉ có
thể áp dụng có hiệu quả thuật toán CN trong
dự báo các động đất có M ≥ 5,5.
III. BƯỚC ĐẦU ÁP DỤNG
THUẬT TOÁN M8S NGHIÊN CỨU DỰ BÁO TRUNG HẠN
ĐỘNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
1. Chương tŕnh M8
Phần
biểu diễn cuối cùng của thuật toán M8 là Chương
tŕnh M8 với tập hợp những giá trị cho
trước của các thông số. Giá trị của thông
số cung cấp cho chương tŕnh là mật định
(default values). Tuy vậy, Chương tŕnh M8 cũng cho phép
người sử dụng áp dụng những phương
án khác nhau của danh mục động đất trên
cơ sở quan điểm cụ thể chung nhất
của đặc trưng hoạt động [1-7].
Bảng 4. Bảng các thông số
được sử dụng trong Chương tŕnh M8
|
Hằng số |
Tên giao tiếp |
Mô tả |
|
M0 |
M0 |
Giới hạn
độ lớn dùng để xác định (dự báo)
động đất mạnh |
|
m |
M |
Giới hạn
dưới độ lớn động đất dùng
để tính toán |
|
M' |
MM |
Giới hạn trên độ lớn động
đất dùng để tính toán |
|
Ma |
Ma |
Giới hạn
độ lớn để xác định dư chấn |
|
t0 |
To |
Thời điểm
bắt đầu của quá tŕnh phân tích |
|
Tb |
Tb |
Thời điểm bắt đầu xác
định dự báo |
|
Te |
Te |
Thời điểm kết thúc xác định dự
báo |
|
T* |
T* |
Thời điểm xảy ra động đất
đặc trưng trong vùng khảo sát |
|
dt |
dt |
Bước khoảng cách thời gian giữa hai
lần xác định giá trị |
|
s, u, e |
s, u, e |
Khoảng thời gian của mỗi lần xác
định |
|
t |
Tau |
Khoảng thời gian kéo dài của một TIP |
|
tex |
Tex |
Khoảng thời gian kéo dài của các phiếu tính
toán |
|
b |
beta |
Hằng số của trọng số hàm mũ trong
s(t) |
|
g |
d |
Luỹ thừa
của mẫu số trong s(t) |
|
H, G |
H, G |
Phiếu giới hạn |
2. Bước đầu ứng dụng
thử nghiệm thuật toán M8S nghiên cứu dự báo
động đất ở Việt Nam
Hoạt
động động đất trên lănh thổ Việt
Nam và kế cận có biểu hiện chung nhất là:
- Động
đất cực đại có chấn cấp không
vượt quá 7,0 độ Richter;
- Phân
bố động đất không đồng đều
theo diện, tập trung chủ yếu tại khu vực
Tây Bắc Bộ, Bắc Lào và phần diện tích lănh
thổ Trung Quốc giáp với Lào Cai - Lai Châu;
-
Mật độ trung b́nh động đất hàng năm
không lớn, nhỏ hơn 10 trận trong một năm, chủ yếu
nằm trong khoảng 3-6 trận.
Do
đặc trưng hoạt động động
đất yếu, chúng tôi đă áp dụng thuật toán M8S
(M8 mở rộng) cho chuẩn M6,5 + bán kính R = 192 km,
bước thời gian, dt, là 0,5 năm. Danh mục
động đất được sử dụng là danh
mục đầy đủ thu thập từ các nguồn
khác nhau (Việt Nam, ISC, NOAA, NEIC) từ năm 1900
đến năm 2008. Quá tŕnh phân tích được
tiến hành theo hai bước sau [1, 2]:
1-
Chạy M8S nhằm nhận dạng động đất
đă xảy ra trong quá khứ, trận động
đất Tuần Giáo Ms = 6,7 xảy ra vào ngày 24/6/1983. Các
thông số được lựa chọn gồm: phủ kín khu vực nghiên cứu
(Bắc Việt Nam và lân cận, 18,0-24,00 B; 101,00-108,00
Đ) bởi những đường tṛn bán kính R = 192
km, tương ứng với M6,5+; những đuờng
tṛn này có tâm phân bố theo lưới 1´10, mô phỏng
từ 1975 đến 1980 với tần số động
đất trung b́nh là 3-6 trận trong một năm trong
mỗi đường tṛn dự báo, khoảng thời gian
mô phỏng là 5 năm, kể từ năm 1981.
Kết
quả cho thấy động đất Tuần Giáo đă
được báo trước theo số liệu đến
năm 1980 và trên cơ sở chạy Chương tŕnh M8S [1,
2].
2-
Chạy M8S nhằm dự báo động đất có nguy
cơ xảy ra trong 5 năm sau năm 2005, và cập
nhật số liệu mới đến hết năm 2008.
Các thông số được lựa chọn: phủ kín khu
vực nghiên cứu (Bắc Việt Nam và lân cận,
18,0-24,00 B; 101,0-108,00 Đ) bởi những
đường tṛn bán kính R = 192 km, tương ứng
với M6,5+; những đuờng tṛn này có tâm phân bố
theo lưới 1´10, mô
phỏng từ 1995 đến 2005 để dự báo cho
giai đoạn 2006-2010 và mô phỏng từ 2000 đến 2008
dự báo cho giai đoạn 2009-2013, với tần số
động đất trung b́nh là 6-12 trận trong một năm
trong mỗi đường tṛn dự báo.
Kết
quả tính toán cho thấy trong phạm vi nghiên cứu
tồn tại 2 khu vực có nguy cơ xuất hiện
động đất M6,5+ trong khoảng thời gian
từ năm 2006 đến năm 2010 [1]. Trận
động đất 6,4 độ Richter xảy ra vào ngày
16/5/2007 tại tọa độ 20030’ B; 100045’Đ
đă xảy ra trong vùng dự báo. Trên cơ sở số
liệu đến hết năm 2008, kết quả dự
báo cho khoảng thời gian từ năm 2009 đến
năm 2013 (H́nh 3) cho thấy khu vực Tây Bắc Bộ và
vùng Vân Nam (Trung Quốc) là nơi có nguy cơ động
đất lớn nhất.

H́nh 3. Những vùng diện tích gạch chéo là vùng cảnh báo
động đất có thể xảy ra từ sau năm
2008 (kéo dài 5 năm, đến năm 2013) trên cơ sở
sử dụng chương tŕnh M8S.
IV. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ BÀI
TOÁN DỰ BÁO TRUNG HẠN ĐỘNG ĐẤT Ở
VIỆT NAM
Trên
cơ sở bước đầu áp dụng chương
tŕnh CN, M8 và M8S trong nghiên cứu dự báo trung hạn
động đất ở Việt Nam có thể rút ra
một số nhận xét sau:
1. Từ
năm 1964 đến 2002 trong phạm vi "Tây Bắc
Bộ mở rộng" đă dự báo được 3
trận động đất với Mc = 3,0 và 3,4 (1972, 1983
và 1989) trong số 4 trận động đất với M
³ 5,5 đă xảy ra trong
khu vực (1966, 1972, 1983 và 1989). Trận động
đất với M = 6,2 xảy ra vào ngày 3/10/2003 tại
tọa độ 21,270 B và 101,510 Đ đă
được dự báo trước (sử dụng
thuật toán CN).
2. Từ
1978 đến hết 2002, trong phạm vi “Tây Bắc Bộ
mở rộng” đă dự báo được 2 trận
động đất với Mc = 3,4 và 3,6 tương
ứng với 2 trận động đất với Mc
≥ 5,5 đă xảy ra vào các năm 1983 và 1989. Một
cảnh báo về nguy cơ xảy ra động
đất với Mc = 5,5 hoặc lớn hơn có khả
năng xuất hiện từ năm 2008 được
đưa ra đối với khu vực “Tây Bắc Bộ
mở rộng” trên cơ sở danh mục động
đất từ 1964 đến 2005 (sử dụng
thuật toán CN).
3. Từ
1990 đến tháng 6/2006, đă dự báo được 1
trận động đất (2003) với Mc = 3,0; 3,2; 3,4
và 3,6; trận này tương ứng với 1 trong 2 trận
động đất với Mc ≥ 5,5 đă xảy ra trong khu vực “Tây
Bắc Bộ mở rộng” (2001, 2003). Như vậy, thuật
toán M8 mở rộng (M8S) là thuật toán phù hợp với
việc áp dụng cho nghiên cứu dự báo trung hạn
động đất ở Việt Nam. Trận động
đất Tuần Giáo Ms = 6,7 xảy ra vào ngày 24/6/1983 đă
nhận dạng được trên cơ sở số
liệu có được đến năm 1980, với
thời gian cảnh báo là từ 1981 đến 1986.
4.
Với số liệu cập nhật đến hết
năm 2008, kết quả tính toán theo M8S cho thấy trong
khoảng thời gian từ 2009 đến 2013 trên phạm
vi khu vực Tây Bắc Bộ bao gồm các tỉnh Lai Châu,
Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái và tỉnh Vân Nam (Trung
Quốc) có thể có nguy cơ xảy ra động
đất với chấn cấp lớn hơn 6,5
độ Richter (M6,5+).
VĂN LIỆU
1. Cao
Đ́nh Triều (Chủ biên),
2006. Thiết lập những tiếp
cận thích hợp để nghiên cứu dự báo
động đất lănh thổ Việt Nam. BC tổng kết
nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo Nghị định
thư Việt Nam - Italia (2004-2006). Lưu trữ Viện VLĐC, Hà
Nội, 169 trg.
2. Cao
Đ́nh Triều (Chủ biên), 2008. Nghiên
cứu dự báo động đất mạnh khu vực
ĐN Châu Á có nguy cơ gây sóng thần ảnh hưởng
đến bờ biển và hải đảo Việt Nam. BC tổng kết nhiệm vụ
HTQT về KH&CN theo Nghị định thư Việt Nam
- Italia (2006-2008). Lưu
trữ Viện VLĐC, Hà Nội. 222 trg.
3. Gabrielov A.M., Dmitrieva
O.E., Keilis-Borok V.I., Kosobokov V.G., Kuznetsov I.V., Levshina T.A., Mirzoev
K.M., Molchan G.M., Negmatulaev S.Kh., Pisarenko V.F., Prozorof A.G., Renehart
W., Rotwain I.M., Shebalin P.N., Shnirman M.G., Schreider S.Yu., 1986. Algorithms of long-term earthquakes prediction. CERESIS,
4. Keilis-Borok V.I., Kosobokov V.G., 1988. Premonitory activation of seismic flow: Algorithm M8.
Lecture notes of the Workshop on Global
Geophysical Informatics with applications to research in earthquake prediction
and reduction of seismic risk, ICTP,
5. Keilis-Borok V.I., Kosobokov V.G., 1990. Premonitory activation of seismic flow: Algorithm M8.
Phys. Earth and Planet. Inter., 61 : 73-83.
6. Keilis-Borok V.I., Kosobokov V.G., 1990. Times of increased probability of strong earthquakes
(Mo 7.5) diagnosed by algorithm M8 in
7. Kosobokov V.G., Romashkova L.L., Panza G.F.,
Perecan A., 2002. Stabilizing
intermidiate-term medium-range earthquake prediction. J. Seism. Earthqu. Engin., 4/2&3 : 11-19.
8. Peresan A., G.F. Panza, G. Costa, 1999. Seimototectonic model and CN earthquake prediction in
9. Peresan A., G.F. Panza, G. Costa, 2000. CN algorithm and
long-lasting changes in reported magnitudes: The case of