HOẠT ĐỘNG
ĐỘNG ĐẤT Ở
VIỆT
PERESAN
A.1, CAO Đ̀NH TRIỀU2, MAI XUÂN BÁCH2,
NGUYỄN THẾ HÙNG2, BÙI ANH NAM2, NGUYỄN
XUÂN B̀NH2
1Đại học Tổng hợp Trieste, Italia
2Viện Vật lư Địa cầu, Viện
KH&CN Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy,
Hà Nội
Tóm tắt: Một
danh mục động đất lănh thổ Việt
1.
Đây là một danh mục động đất khá
đầy đủ, song cũng cần được
thảo luận và cập nhật thêm, nhất là với các
trận động đất ghi trong tư liệu
lịch sử.
2. Có
biểu hiện rơ nét một số quy luật hoạt
động động đất ở Việt
I.
MỞ ĐẦU
Từ
năm 1976 trên phạm vi miền Bắc Việt Nam đă có
5 trạm quan trắc động đất hoạt
động liên tục và đồng bộ (Phù Liễn,
1924; Sa Pa, 1961; Bắc Giang, 1962; Tuyên Quang và Hoà B́nh, 1972). Các
trạm địa chấn này đă ghi nhận
được khá đầy đủ số liệu
về các trận động đất trên lănh thổ Bắc
Việt
Số
liệu động đất quan trắc được bằng
hệ thống đài trạm của Việt
Trong
khuôn khổ công tŕnh này, các tác giả tŕnh bày một số
nhận định về danh mục động
đất mới được thiết lập trên
cơ sở các loại tài liệu khác nhau có
được theo một quy chuẩn nhất định
đă được ứng dụng rộng răi trên thế
giới.
Vùng
nghiên cứu được khống chế trong khung
tọa độ: 4030-23030 độ vĩ
Bắc; 1000-1180 độ kinh Đông.
II.
DANH MỤC ĐỘNG ĐẤT LĂNH THỔ VIỆT
Danh mục động đất lănh thổ Việt
Nam được thiết lập đến hết
năm 2007 (lưu pḥng Địa động lực,
Viện Vật lư Địa cầu) dựa trên cơ
sở các nguồn tài liệu: 1. Danh mục động
đất của Viện Vật lư Địa cầu
được thiết lập đến hết năm
2007; 2. Danh mục động đất bổ sung, cập
nhật từ công bố của ISC; 3. Danh mục
động đất bổ sung, cập nhật từ
công bố của NOAA; và 4. Danh mục động
đất bổ sung, cập nhật từ công bố
của NEIC [1, 2].

H́nh 1. Phân
bố chấn tâm động đất ở lănh thổ
Việt Nam và các khu vực kế cận
(đến hết năm 2007)
Quá tŕnh thiết lập danh mục động
đất đầy đủ cho lănh thổ Việt
Bước 1:
Định dạng ở khổ chuẩn và kiểm tra danh
mục động đất Viện Vật lư Địa
cầu (VLĐC);
Bước 2:
Đối sánh danh mục động đất Viện
VLĐC với danh mục của ISC;
Bước 3:
Đối sánh danh mục động đất Viện
VLĐC với danh mục của NOAA;
Bước 4:
Đối sánh danh mục động đất Viện
VLĐC với danh mục của NEIC;
Bước 5:
Đối sánh các danh mục động đất phụ
trội của ISC+NOAA+NEIC với danh mục động
đất Viện VLĐC và thành lập danh mục
động đất đầy đủ cho lănh thổ
Việt
Trong quá tŕnh thiết lập danh mục động
đất Việt
Danh mục động đất thành lập
được có tổng cộng 60 động đất với
M>4,0 ghi nhận được trước năm 1900 và 534 động đất với
M ≥ 4,5 từ năm 1900 đến 2007 [2].
Chương tŕnh
CATAL được sử dụng nhằm thiết lập
danh mục động đất này với quy chuẩn:
- Thời gian khác
biệt là 1 phút;
- Độ
lệch tọa độ chấn tâm là 0,5 độ (kinh
độ và vĩ độ);
- Độ sâu và
chấn cấp không xét đến.
III.
BIỂU HIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ
TRẬN ĐỘNG ĐẤT ĐẶC TRƯNG
1.
Động đất trước 1900
a. Trận động đất
quận Nhật
Theo
Viện VLĐC [4] th́ trận động đất này có
cường độ chấn động I0 = 8,0
và chấn cấp MS = 6,0 độ Richter.
b. Trận động đất
Kinh đô (Hà Nội) (1278): Theo tư liệu lịch
sử Việt
Theo
Viện VLĐC [4] th́ trận động đất này có
cường độ chấn động I0 = 7,0
(Nguyễn Khắc Măo cho là 8,0) và chấn cấp MS
= 5,0 độ Richter.
c. Trận động đất
chùa Báo Thiên (Hà Nội) (1285): Theo tư liệu lịch
sử Việt
Theo
Viện VLĐC [4] th́ trận động đất này có
cường độ chấn động I0 = 7,0
(Nguyễn Khắc Măo cho là 8,0) và chấn cấp MS
= 5,0 độ Richter.
d. Trận động đất
Ninh B́nh (1635): Theo tư liệu lịch
sử Việt
Theo
Viện VLĐC [4] th́ trận động đất này có
cường độ chấn động I0 = 8,0
và chấn cấp MS = 6,7 độ Richter.
e. Trận động đất
Nghệ An (1821): Theo tư
liệu lịch sử Việt
Theo
Viện VLĐC [4] th́ trận động đất này có
cường độ chấn động I0 = 8,0
và chấn cấp MS = 6,0 độ Richter.
f. Trận động đất
B́nh Thuận (1877): Theo tư
liệu lịch sử Việt
Theo
Viện VLĐC [4] th́ trận động đất này có
cường độ chấn động I0 = 7,0
và chấn cấp MS = 5,1 độ Richter. Trong khi
đó số liệu động đất lịch sử
của NOAA lại ghi giá trị chấn cấp Mb =
7,0.
g. Trận động đất
B́nh Thuận (1882): Theo tư
liệu lịch sử Việt
Theo
Viện VLĐC [4] th́ trận động đất này có
cường độ chấn động I0 = 7,0
và chấn cấp MS = 5,1 độ Richter. Trong khi
đó, số liệu động đất lịch sử
của NOAA lại ghi giá trị chấn cấp Mb =
6,0.
2.
Động đất từ 1900 đến 2007
a. Trận động đất Điện
Biên (1935): Trận động
đất Điện Biên xảy ra vào hồi 23 giờ 22
phút ngày 1/11/1935 tại vùng phía ĐN Tp Điện Biên,
chấn cấp Ms = 6,8 độ Richter [6]. Động đất
đă gây hư hại nặng về nhà cửa ở
Điện Biên và
b. Trận động đất
Lục Yên (1954): Theo kết quả điều tra trong nhân
dân th́ trong hai năm liền, 1953 và 1954, tại vùng Lục
Yên, Yên Bái đă xảy ra hai trận động đất
có cường độ chấn động cực
đại tại vùng chấn tâm là cấp 7 (thang MSK). Vùng
chấn động cấp 7 này kéo dài tới 30 km theo
hướng TB-ĐN, hẹp và trùng với đứt găy
Sông Hồng. Dựa trên cơ sở đường
đẳng chấn, các nhà địa chấn của
Viện VLĐC đă xác định được thông
số của động đất như sau: chấn
cấp là 5,4 độ Richter, độ sâu chấn tiêu là 16
km. Hai trận động đất này không
được ghi nhận bởi mạng lưới
trạm địa chấn quốc tế. Nó
được phát hiện hoàn toàn bằng công tác
điều tra động đất trong nhân dân. Đây
cũng là một trong số những trận động
đất mạnh nhất đă xảy ra dọc
đứt găy Sông Hồng trong phạm vi lănh thổ
nước ta.
c. Trận động đất
Bắc Giang (1962): Trận động đất Bắc Giang
xảy ra vào hồi 16 giờ 58’ (giờ Hà Nội), ngày
12/6/1961 tại Tân Yên, cách thị xă Bắc Giang 11 km về
phía ĐB. Cường độ chấn động ở
vùng chấn tâm đạt cấp 7, làm hư hại vừa
một số nhà cấp 4. Vùng chấn động cấp 7
rất hẹp, trong khi vùng chấn động cấp 6 và
cấp nhỏ hơn lại rất rộng. Điều
này có thể lư giải là do hiệu ứng cục bộ
của chấn tiêu nằm gần sát mặt đất.
Độ sâu chấn tiêu của động đất này
được xác định là 28 km. Chấn cấp
của động đất theo các nhà địa chấn
Việt
d. Các trận động đất
Sông Cầu (B́nh Định) (1970, 1972): Hai trận
động đất ở Sông Cầu năm 1970 và 1972
đều có cường độ chấn động
cấp 7 tại vùng chấn tâm, được phát hiện
bằng quan trắc động đất và cả
bằng điều tra động đất trong nhân dân.
Trận thứ nhất xảy ra vào ngày 12/4/1970 và trận
thứ hai vào ngày 24/5/1972, tại phía tây thị trấn Sông
Cầu. Hai chấn tâm này cách nhau 20 km theo phương kinh
tuyến, v́ vậy khi điều tra khó tách biệt
được đường đẳng chấn nên
bị gộp lại thành một đường
đại diện chung. Độ sâu chấn tiêu 13 km và
chấn cấp M = 5,3 độ Richter là đặc trưng
chung cho cả hai động đất này.
e. Trận động đất
Tuần Giáo (1983): Trận
động đất Tuần Giáo xảy ra vào hồi 14
giờ 18 phút (giờ Hà Nội) ngày 24/6/1983 trong vùng núi cách
thị trấn Tuần Giáo về phía bắc khoảng 11
km. Chấn cấp của động đất
được xác định là Ms = 6,7±0,2
độ Richter. Cường độ chấn
động trong vùng cực động I0 = 8-9 (thang
MSK). Động đất gây chấn động mạnh
trên những vùng rộng lớn ở Tây Bắc Bộ,
Đông Bắc Bộ, Lào và Trung Quốc. Chấn
động cấp 8 và mạnh hơn xảy ra trên diện
tích 1.500 km2, cấp 7 và mạnh hơn là 13.000 km2.
Sau chấn động chính là hàng loạt dư chấn
đă xảy ra. Dư chấn mạnh nhất xảy ra vào
ngày 15/7/1983 ngay trong vùng cực động và có chấn
cấp bằng 5,4 độ Richter, độ sâu chấn
tiêu là 8 km và gây chấn động trên bề mặt
tại vùng chấn tâm với I0 = 7-8. Đá lở
trong dư chấn này cũng làm 2 người thiệt
mạng.
f. Trận động đất
Mường Luân (1996): Ngày 23/6/1996 tại xă Mường
Luân thuộc huyện Điện Biên Đông (tỉnh
Điện Biên) đă xảy ra động đất
với chấn cấp xấp xỉ 5,0 độ Richter.
j. Trận động đất Thin
Tóc hay c̣n gọi là trận động đất
Điện Biên (2001): Ngày 19/2/2001, hồi 22 giờ 52 phút
(giờ Hà Nội) tại vùng biên giới Việt-Lào, giáp
ranh với Tp Điện Biên đă xảy ra động
đất với chấn cấp bằng 5,3 độ
Richter. Mức độ phá hủy của động
đất khá lớn, gây thiệt hại nhiều về
nhà ở của nhân dân tại Tp Điện Biên,
ước tính hàng trăm tỷ đồng Việt
IV.
MỘT SỐ QUY LUẬT BIỂU HIỆN HOẠT
ĐỘNG ĐỘNG ĐẤT Ở VIỆT
1. Quy luật phân
bố động đất theo không gian
-
Tập hợp của các vùng nguồn tồn tại trong
một hệ thống đứt găy (hay nhiều hệ
thống đứt găy) có chung đặc trưng của
cơ cấu chấn tiêu, đặc trưng chung nhất
về cấu trúc và h́nh thái kiến trúc, h́nh động
học và địa động lực của đứt
găy.
- Có
sự tương đồng về đặc trưng
thông số và trường địa vật lư, đặc
trưng và mức độ cấu trúc phức tạp,
đặc điểm biến dạng và địa
động lực trong phạm vi một đới sinh
chấn.
Trên
cơ sở tài liệu có được, các tác giả
đă phân định 30 đới phát sinh động
đất trên lănh thổ Việt
1-
Đới động đất Mường Tè: phát triển
dọc theo đới phá huỷ cùng tên có phương
TB-ĐN. Đây là đới hoạt động
động đất khá mạnh và có lẽ c̣n kéo dài
về phía TB (sang lănh thổ Trung Quốc). Cực
đại động đất quan sát được
nằm ở mức mạnh (Ms = 7,0-7,9 độ Richter).
2-
Đới động đất Phong Sa Ĺ: phát triển
dọc theo đới phá huỷ cùng tên có phương
ĐB-TN. Đây là đới hoạt động
động đất khá mạnh và nằm chủ yếu
trên phạm vi lănh thổ Lào. Động đất cực
đại đă quan sát được nằm ở
mức cao (Ms = 6,0-6,9 độ
Richter).
3-
Đới động đất Ou Đom Xai: phát triển
dọc theo đới phá huỷ cùng tên có phương phát
triển ĐB-TN. Đới động đất này có
đặc trưng hoạt động khá mạnh, nằm
trên phạm vi lănh thổ Lào. Chấn cấp lớn
nhất của động đất đă quan sát
được nằm ở mức 6,0-6,9 độ Richter.
4-
Đới động đất Lai Châu - Điện Biên: phát triển
dọc theo đới đứt găy cùng tên có phương
kinh tuyến. Đây là đới hoạt động
động đất mức trung b́nh với chấn
cấp Ms = 5,0-5,9 độ
Richter (cả trên lănh thổ Trung Quốc và lănh thổ Lào).
5-
Đới động đất Xiaojiang: thuộc phạm
vi lănh thổ Trung Quốc, nằm sát biên giới
Việt-Trung và có phương á kinh tuyến. Trong phạm vi
đới này, tại khu vực lân cận Việt
6-
Đới động đất Sông Hồng: phương
TB-ĐN, có chiều dài khoảng 500 km và phát triển
chủ yếu dọc theo các đới đứt găy Sông
Hồng và Sông Chảy. Động đất mạnh
nhất quan sát được trong phạm vi đới này
có chấn cấp nằm ở mức giá trị trung b́nh, Ms
= 5,0-5,9 độ
Richter.
7-
Đới động đất Sông Đà - Sơn La: phương
TB-ĐN phát triển dọc theo hệ thống đứt
găy Sơn La - Sông Đà. Trong phạm vi đới này đă
quan sát được nhiều trận động đất
có Ms > 5,0, đặc biệt là động
đất Yên Định, 1635 (Ms = 6,7) và Tuần
Giáo, 1983 (Ms = 6,7 độ Richter).
8-
Đới động đất Điện Biên - Thái Ḥa: phương
TB-ĐN kéo dài từ Điện Biên qua Sầm Nưa
tới Thái Ḥa, Tĩnh Gia. Trong phạm vi đới này
đă xảy ra các trận động đất mạnh
nhất ở Việt
9-
Đới động đất Sông Cả - Rào Nậy: phương
TB-ĐN, phát triển trong phạm vi hệ thống
đứt găy sông Cả - Rào Nậy. Ở đây đă quan
sát được động đất lịch sử
năm 1821 với Ms = 6,0 độ Richter.
10-
Đới động đất A Lưới - Thà
Khẹt:
phương TB-ĐN, phát triển trong phạm vi hệ
thống đứt găy cùng tên. Động đất ở
đây đă quan sát được có chấn cấp
cực đại nằm trong phạm vi mức độ
trung b́nh (5,0-5,9 độ
Richter).
11-
Đới động đất Gia Lâm - Đồng
Hới:
phương kinh tuyến, phát triển trong phạm vi
hệ thống đứt găy cùng tên. Trong phạm vi
đới này quan sát được động đất
có chấn cấp lớn nhất nằm ở mức
độ trung b́nh, 5,0-5,9 độ
Richter.
12-
Đới động đất Bắc Giang - Hải
Dương:
phương TB-ĐN. Ở đây đă quan sát
được động đất có chấn cấp
mức trung b́nh, Ms =
5,0-5,9 độ Richter.
13-
Đới động đất Quản Bạ - Bắc
Cạn:
phương TB-ĐN, phát triển trong phạm vi các
đới đứt găy cùng tên. Trong phạm vi đới
này đă quan sát được động đất có
chấn cấp mức trung b́nh, 5,0-5,9
độ Richter.
14-
Đới động đất Cao Bằng - Lộc B́nh: có lẽ là
sự kế tiếp của đới động
đất Hoa
15-
Đới động đất
16-
Đới động đất Lingshan - Hạ Long: phương
ĐB-TN, phát triển trong phạm vi hoạt động
của đới đứt găy Lingshan trong phạm vi lănh
thổ Trung Quốc và Cô Tô trong phạm vi lănh thổ
Việt
17-
Đới động đất Huyện Nhai - Văn Ninh: phương
ĐB-TN, hoạt động trong phạm vi đới
đứt găy cùng tên. Tại đới này đă quan sát
được động đất có Ms = 7,5
độ Richter.
18-
Đới động đất Châu Giang: phương
ĐB-TN, phát triển trong phạm vi hệ thống
đứt cùng tên. Ở đây đă quan sát được
động đất mức độ trung b́nh, Ms =
5,0-5,9 độ Richter.
19- Đới
động đất Bắc Hoàng Sa: phương
ĐB-TN. Trong phạm vi đới này đă ghi nhận
được động đất có mức độ
cao, nằm trong giới hạn 6,0-6,9
độ Richter.
20-
Đới động đất Hoàng Sa: có giá trị
cực đại của chấn cấp đă quan sát
được đạt 5,9 độ Richter.
21-
Đới động đất Ba Tơ - Củng Sơn: có phương á
kinh tuyến và phạm vi hoạt động giới hạn
trong đới phá huỷ Ba Tơ - Củng Sơn và Sông Ba.
Động đất xảy ra ở đây khá
thường xuyên với chấn cấp ở mức
độ trung b́nh, Ms = 5,0-5,9.

H́nh 2. Các đới phát sinh động
đất ở lănh thổ Việt
22-
Đới động đất Thuận Hải - Minh
Hải:
phát triển dọc theo bờ biển Thuận Hải -
Minh Hải (phương ĐB-TN) với đặc
trưng hoạt động động đất khá liên
tục, chấn cấp khá lớn, đạt Ms =
4,5 (7,0**) độ Richter.
23-
Đới động đất
24-
Đới động đất Đông Phú Khánh: phương
TB-ĐN; động đất xảy ra ở đây khá
thường xuyên với chấn cấp khá lớn,
đạt 5,8 độ Richter.
25-
Đới động đất Đông Biển Đông: phương kinh
tuyến, hoạt động trong phạm vi đới
đứt găy cùng tên. Đây là đới có đặc
trưng vỏ đại dương và động
đất đă quan sát được có chấn cấp
lớn nhất là 5,9 độ Richter.
26-
Đới động đất Quảng Châu: phương
ĐB-TN và nằm trọn trong lănh thổ Trung Quốc;
động đất xảy ra trong phạm vi này có
chấn cấp đạt 7,3 độ Richter.
27-
Đới động đất Shabah: phương
ĐB-TN hoạt động trong phạm vi đới
đứt găy cùng tên. Động đất quan sát
được trong đới này có chấn cấp
đạt 6,0 độ Richter.
28-
Đới động đất Kiên Giang: trong phạm vi
đới này đă quan sát được động
đất có chấn cấp bằng 5,5 độ Richter.
29-
Đới động đất ĐN Thái Lan: trong phạm vi
đới này đă quan sát được động
đất có chấn cấp bằng 5,0 độ Richter.
30-
Đới động đất

H́nh 3. Biểu hiện quy luật yếu-mạnh của một số trận động đất đặc trưng.
- Đại
diện chung cho toàn quốc:
lgHmin= 0,28MS – 0,44 (1)
lgH = 0,13MS – 0,61 (2)
- Đại
diện cho các đới thuộc Đông Bắc Bộ:
lgHmin= 0,32MS – 0,64 (3)
lgH = 0,25MS (4)
- Đại
diện cho các đới thuộc Tây Bắc Bộ:
lgHmin= 0,24MS – 0,24 (5)
lgH = 0,20MS – 0,10 (6)
- Đại
diện cho các đới thuộc Bắc Trung Bộ:
lgHmin= 0,26MS – 0,33 (7)
lgH = 0,20MS – 0,16 (8)
2.
Quy luật yếu-mạnh và yên tĩnh - động trong
hoạt động động đất
Quy
luật yếu-mạnh trong động đất biểu
hiện khá rơ nét ở một số khu vực xảy ra
động đất với chấn cấp vừa và mạnh,
cụ thể là (H́nh 3).
1-
Trước khi xảy ra động đất Yên
Định 1635, trong khu vực vùng cực động
động đất và kế cận quan sát thấy hai
động đất có Ms = 5,0-5,4; đó là động đất Thanh Hóa
1584 (Ms = 5,1) và động đất Yên
Định 1587 (Ms = 5,1).
2-
Quy luật yếu - mạnh cũng biểu hiện khá rơ
nét đối với động đất Điện
Biên 1935 (Ms = 6,8), song hai động đất
trước đó xuất hiện vào năm 1933 kế
cận vùng cực động có chấn cấp nhỏ
hơn (Ms = 4,5-4,9).

H́nh 4. Phân bố không gian - thời gian của động đất ở Tuần Giáo và các vùng kế cận.
3- Quy
luật yếu - mạnh được biểu hiện rơ
nét nhất đối với động đất
Tuần Giáo 1983 (Ms = 6,7). Ở đây, trước
khi xảy ra động đất Ms = 6,7 đă
xuất hiện ba động đất có Ms = 4,5-4,9 với khoảng cách so với động
đất 1983 không vượt quá 35 km. Đó là động
đất 1927 (Ms = 4,8); động đất 1936
(Ms = 4,8) và động đất 1945 (Ms =
4,8). Ba trận động đất này có biểu hiện
dịch chuyển ngược chiều kim đồng
hồ, tuần tự theo thời gian từ động
đất 1927 tới động đất 1936, rồi
tới động đất 1945 và sau đó xuất
hiện động đất Tuần Giáo. Dạng
dịch chuyển kiểu này cũng quan sát thấy
đối với trường hợp động
đất Yên Định 1635 và động đất
Điện Biên 1935.
4-
Đối với các động đất có chấn
cấp mạnh trung b́nh như động đất
Việt Tŕ 1958, động đất Yên Bái 1961,
động đất Mường Luân 1996 biểu hiện
động đất yếu trước khi xảy ra
động đất mạnh hơn khá rơ nét. Trước
khi xảy ra động đất chính tại các vùng lân
cận vùng cực động đă xảy ra một
số trận động đất yếu hơn với
dịch chuyển theo thời gian ngược chiều kim
đồng hồ.
3.
Quy luật yên tĩnh - động
Kết
quả nghiên cứu thống kê động đất
của nhiều tác giả trên thế giới và Việt
Thời gian yên tĩnh động đất tại
một vùng nghiên cứu nào đó được xác
định rơ nét trên biểu đồ phân bố không gian -
thời gian của động đất. Chẳng
hạn, phân bố không gian - thời gian của trận
động đất ở Tuần Giáo và các vùng kế
cận được biểu diễn trên H́nh 4. Trên cơ
sở kết quả phân tích
này, có thể rút ra một số nhận định sau: 1.
Thời gian trung b́nh yên tĩnh động đất
trước khi xảy ra động đất mạnh
nhất là cỡ 50 năm; 2. Hoạt động
động đất tích cực trước khi xuất
hiện động đất Điện Biên diễn ra
vào những năm từ 1914 đến 1945, tức là
khoảng 30 năm. Nổi bật nhất trong giai
đoạn hoạt động tích cực này là sự
xuất hiện động đất Điện Biên
năm 1935 (Ms = 6,8); 3. Nếu cho rằng thời gian
hoạt động tích cực trước đó cũng
đặc trưng cho hiện tại, th́ hiện nay vùng
Tuần Giáo và các vùng kế cận đang chịu ảnh
hưởng của một giai đoạn hoạt
động động đất tích cực, c̣n có thể
kéo dài khoảng 10 năm nữa.
V.
NHẬN XÉT CHUNG
1. Danh mục động
đất lănh thổ Việt Nam tuy đă được
thành lập trên cơ sở một hệ phương pháp
tiến bộ và với việc cập nhật bổ sung
từ nhiều nguồn khác nhau, song c̣n nhiều vấn
đề cần được thảo luận và cập
nhật bổ sung thêm. Chẳng hạn việc xác
định giá trị chấn cấp trên cơ sở mô
tả trong tư liệu lịch sử chưa
được nhất quán theo một phương pháp
luận chặt chẽ nhất định, tạo nên
sự kém tương đồng giữa giá trị
cường độ chấn động với chấn
cấp động đất.
2. Các ghi
chép lịch sử liên quan tới động đất
ở Việt
3. Quy
luật biểu hiện yếu - mạnh và yên tĩnh -
động trong hoạt động động đất
ở Việt
VĂN
LIỆU
1. Cao Đ́nh Triều (Chủ biên),
2006. Thiết lập
những tiếp cận thích hợp để nghiên cứu
dự báo động đất lănh thổ Việt Nam. BC Tổng kết nhiệm vụ
HTQT về KH&CN theo nghị định thư Việt Nam
- Italia (2004-2006). Lưu
trữ Viện VLĐC, Hà Nội, 169 tr..
2. Cao Đ́nh Triều (Chủ biên),
2008. Nghiên cứu dự báo
động đất mạnh khu vực Đông Nam Châu Á có
nguy cơ gây sóng thần ảnh hưởng đến
bờ biển và hải đảo Việt Nam. BC Tổng kết nhiệm vụ
HTQT về KH&CN theo nghị định thư Việt Nam
- Italia (2004-2006). Lưu
trữ Viện VLĐC, Hà Nội, 222 tr..
3. NEIC, 2007. http://neic.usgs.gov/ neis/epic/epic_rect.html.
4. Nguyễn Đ́nh Xuyên (Chủ biên), 2004. Nghiên cứu dự báo động
đất và dao động nền lănh thổ Việt Nam. BC tổng kết Đề tài độc lập
cấp Nhà nước 2000-2002. Hà Nội, 288 tr. Danh
mục động đất Việt Nam (114-2003). Hà
Nội, 115 tr..
5.
Nguyễn Đ́nh Xuyên (Chủ biên), 2007. Nghiên cứu đánh giá độ nguy
hiểm động đất và sóng thần ở vùng
bờ biển Việt Nam và đề xuất các giải
pháp cảnh báo, pḥng tránh. BC
Đề tài cấp
Viện KH&CN VN. Lưu trữ
Viện VLĐC, Hà Nội.
6. Nguyễn
Khắc Măo (Chủ biên), 1968. Động đất miền Bắc Việt Nam. Bản thuyết
minh cho bản đồ phân vùng động đất
miền Bắc VN tỷ lệ 1/1.000.000. Nha Khí tượng,
Hà Nội, 51 tr..
7.
Panza G., Craglietto A., Suhadolc P., 1991.
Source
geometry of historical events retrieved by synthetic isoseismals. Tectonophysics, 193 : 173-184.
8. Peresan A., I.M. Rotwain, 1998. Preprint: Analysis and
definition of magnitude selection criteria for NEIC (PDE) data, oriented to the
compilation of a homogeneous updated catalogue for CN monitoring in
9.
10. Vũ Minh Giang (Chủ
biên), 2003. Động
đất và các hiện tượng thiên nhiên dị
thường thông qua tư liệu lịch sử. Báo cáo
tổng kết đề tài. Lưu Viện VLĐC, 88 tr.