ĐẶC TRƯNG HOẠT ĐỘNG ĐỘNG ĐẤT Ở
CÁC ĐỚI RANH GIỚI MẢNG THUỘC ĐÔNG NAM Á

CAO Đ̀NH TRIỀU1, LÊ VĂN DŨNG1, CAO Đ̀NH TRỌNG2, NGUYỄN ĐỨC VINH3

1Viện Vật lư Địa cầu, Viện KH&CN Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội;
 
2Đại học Tổng hợp Hữu nghị các Dân tộc, Moskva; 3ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội.

Tóm tắt: Trong bài báo này, các tác giảot́nh bày một số nét đặc trưng hoạt động động đất ở đới ranh giới mảng thạch quyển khu vực Đông Nam Á. Các kết quả cho thấy:

1. Động đất ở Đông Nam Á có độ sâu từ rất nông, dưới 10 km, đến rất sâu, 650-700 km. Độ sâu của chấn tiêu đới ranh giới mảng có thể đạt tới 650-700 km, trong khi động đất nội mảng chỉ nằm ở mức độ sâu nhỏ hơn 60 km.

2. Thời kỳ yên tĩnh động đất thuộc vành đai động bao quanh khu vực Đông Nam Á phụ thuộc nhiều vào độ lớn của động đất xuất hiện sau đó. Động đất có chấn cấp nhỏ hơn 7,0 độ Richter có biểu hiện thời kỳ yên tĩnh dưới 30 năm.

3. Nguy cơ xảy ra động đất có chấn cấp lớn hơn hoặc bằng 7,0 độ Richter trong thời kỳ 2006-2010 trên phạm vị ranh giới mảng Đông Nam Á xuất hiện ở các đới phát sinh: Sumatra, Java và Manila.


I. MỞ ĐẦU

Trên quan điểm địa chấn th́ Đông Nam Á là khu vực bị bao bọc bởi 2 vành đai động đất lớn nhất hành tinh. Đó là:

1. Phần tây nam của vành đai Thái B́nh Dương, kéo dài từ Đài Loan qua quần đảo Philippines tới Đông Timor; và

2. Phần cuối của vành đai động đất Địa Trung Hải - Himalaya - Myanmar - Andaman - Sumatra - Java - Timor.

Động đất xảy ra trong phạm vi khu vực này vừa có biểu hiện của động đất nội mảng với độ sâu chấn tiêu nhỏ, vừa có đặc trưng của động đất ranh giới mảng với độ sâu chấn tiêu thay đổi từ rất nông đến rất sâu. Động đất mạnh thuộc ranh giới mảng thạch quyển với độ sâu chấn tiêu nông là nguy cơ gây sóng thần và là mối hiểm họa lớn đối với các quốc gia trong khu vực. Chẳng hạn như  động đất gây sóng thần Sumatra năm 2004 là nguyên nhân của gần 300.000 người thiệt mạng cùng với thiệt hại về kinh tế vô cùng to lớn. V́ vậy, vấn đề nghiên cứu đặc trưng biểu hiện hoạt động động đất ở các đới thuộc vành đai động Đông Nam Á là một nhiệm vụ có ư nghĩa khoa học và thực tiễn cấp thiết.

Nhằm mục đích t́m hiểu một số nét đặc trưng về hoạt động động đất khu vực ranh giới mảng thuộc Đông Nam Á, các tác giả đă tiến hành:

1. Thiết lập danh mục động đất trên cơ sở các tài liệu có được đến hết năm 2007;

2. T́m hiểu một số quy luật biểu hiện hoạt động động đất; và

3. Nghiên cứu dự báo trung hạn động đất.

Khu vực nghiên cứu được giới hạn trong khung tọa độ: từ -150 đến 250 độ vĩ Bắc; từ 900 đến 1350 độ kinh Đông.

II. CÁC ĐỚI PHÁT SINH ĐỘNG ĐẤT CHỦ YẾU Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

Danh mục động đất khu vực Đông Nam Á được thiết lập đến hết năm 2007 bao gồm hơn 75.000 trận có chấn cấp lớn hơn 3,0 độ Richter. Danh mục này được thành lập trên cơ sở 3 danh muc động đất [1, 2, 12]: ISC, NEIC và NOAA đă loại bỏ những trận được xem như trùng nhau bởi chương tŕnh EDCAT và CATAL với khoảng cách chênh lệch về thời gian T = 1 phút; tọa độ chấn tâm động đất chênh nhau trong ṿng 1° theo kinh độ và vĩ độ.

Sự phân bố theo không gian của chấn tâm động đất khu vực Đông Nam Á có một số biểu hiện đặc trưng sau đây:

- Hoạt động tích cực, với nhiều trận động đất mạnh, tập trung chủ yếu tại khu vực ranh giới mảng, trong khi động đất nội mảng lại có biểu hiện hoạt động yếu hơn với chấn cấp nhỏ.

- Động đất ở Đông Nam Á có độ sâu từ rất nông, dưới 10 km, đến rất sâu, 650-700 km. Chấn tiêu động đất sâu nhất thuộc các đới ranh giới mảng: Sumatra (650 km), Java (700 km), Timor (700 km), Philippines (700 km); thứ đến là các đới thuộc ranh giới mảng c̣n lại như Indo-Burma (300 km), Andaman (500 km), Hammahera (350 km), Manila (400 km), Taiwan (350 km). Động đất nội mảng có độ sâu chấn tiêu nhỏ hơn 60 km.

Trên cơ sở các đứt găy hoạt động đă được xác định và phân bố chấn tâm động đất, chúng tôi đă tiến hành phân định các đới phát sinh động đất. Đới phát sinh động đất được xác lập trên cơ sở phân bố không gian của động đất và đặc trưng phân bố của các hệ thống đứt găy theo nguyên tắc chung sau [1, 2]:

1. Đới phát sinh động đất phải bao trùm toàn bộ diện tích của hệ thống đứt găy phát sinh động đất. Các hệ thống đứt găy được phát hiện trên cơ sở tài liệu cắt lớp sóng địa chấn ở các độ sâu khác nhau và các tài liệu địa chất, địa vật lư có được.

2. Ranh giới đới phát sinh động đất phải là đường biên trùng với dải có độ hoạt động địa chấn thấp nhất, nó không được cắt qua vùng tập trung dày đặc các chấn tâm động đất.

 Tổng cộng có 24 đới phát sinh động đất trong khu vực Đông Nam Á đă được phân định (Bảng 1) (H́nh 1), trong số đó các đới thuộc ranh giới mảng như: Andaman, Sumatra, Java, Timor, Philippines và Manila được các tác giả quan tâm nhất, v́ có biểu hiện hoạt động mạnh trong thời gian gần đây và cũng là các đới có nguy cơ xuất hiện động đất gây sóng thần lớn nhất.

Động đất cực đại đă xảy ra và động đất lớn nhất có thể xảy ra tại một số đới phát sinh thuộc ranh giới mảng được chúng tôi đề cập trong Bảng 1, trong đó:

- Cột 2 là đới phát sinh động đất, được xác định trên cơ sở các đới đứt găy hoạt động đă được xác định và đặc trưng hoạt động động đất theo số liệu có được.

- Động đất lớn nhất đă quan sát được trong phạm vi từng đới được ghi nhận trong cột 3 của Bảng 1.

- Chiều dài của từng đới được xác lập trong cột 4. Cũng cần nói rằng việc xác định chiều dài của đới phát sinh động đất là khó khăn, ít đảm bảo độ tin cậy. V́ vậy, ở đây chúng tôi cũng chỉ xác định được một số đới có biểu hiện rơ nét hơn và cũng chỉ dừng ở giá trị gần đúng. Chiều dài của từng đới được đo đạc trên sơ đồ tỷ lệ 1:5.000.000.

- Động đất lớn nhất có thể xảy ra tại nột số đới xác lập được độ lớn của chiều dài đới phát sinh được biểu diễn trong cột 5. Công thức Well & Coppersmith, 1994 được sử dụng trong dự báo giá trị động đất cực đại này [11].

III. BIỂU HIỆN HOẠT ĐỘNG ĐỘNG ĐẤT CỦA CÁC ĐỚI RANH GIỚI MẢNG THẠCH QUYỂN

1. Phân bố động đất theo độ sâu

Các đới hút ch́m là ranh giới chính giữa mảng thạch quyển Âu-Á với mảng Ấn-Úc và mảng Thái B́nh Dương; mảng biển Philippines được phản ánh rơ nét trên tài liệu cắt lớp sóng địa chấn P cũng như trọng lực vệ tinh, từ vệ tinh và động đất [1-9]. Sự phân tích kết hợp các tài liệu địa vật lư này và các mặt cắt phân bố động đất theo độ sâu cho thấy:

- Đới hút ch́m Myanmar-Andaman-Nicobar có độ sâu chúc ch́m đạt 500-550 km cắm về phía đông và có biểu hiện của sự thay đổi về góc cắm, độ sâu chúc ch́m cũng như mức độ hoạt động động đất dọc theo đới. Góc cắm rất thoải, khoảng 20-300 so với phương nằm ngang, với độ sâu chúc ch́m 250-300 km tại đoạn Myanmar và Nicobar, trong khi tại khu vực Andaman độ sâu chúc ch́m có thể đạt 500-550 km với góc cắm 30-450 theo phương nằm ngang. Độ sâu tối đa chấn tiêu động đất có thể đạt tới 500 km.

- Đới hút ch́m Sumatra có độ sâu chúc ch́m có thể đạt 650-700 km, với góc cắm khá thoải về phía đông bắc, 20-500 so với phương nằm ngang. 650 km là độ sâu chấn tiêu của một số trận động đất đă quan sát được.


 

Bảng 1. Các đới động đất Đông Nam Á và động đất cực đại có thể xảy ra

Số TT

Đới động đất

MMax

quan sát

Chiều dài của đới (km)

Động đất cực đại MMax

1

Andaman

9,0

1300

9,0

2

Borneo

6,0

 

 

3

Đông Biển Đông

6,1

 

 

4

Trung tâm Biển Đông

5,9

 

 

5

Guang Zhou

7,3

 

 

6

Hamahera

7,8

 

 

7

Indo-Burma

6,3

 

 

8

Java

6,9

1200

8,95

9

Kalimantan

6,0

 

 

10

Khorat

4,4

 

 

11

Malaysia

5,5

 

 

12

Manila

7,6

1000

8,85

13

Đông Bắc Bộ Việt Nam

5,9

 

 

14

Tây Bắc Bộ Việt Nam

6,8

 

 

15

Pattani

5,8

 

 

16

Philippines

7,9

1200

8,95

17

Shan-Thai

7,1

 

 

18

Nam Bộ Việt Nam

6,1

 

 

19

Sumatra

8,5

1100

8,9

20

Taiwan

7,9

 

 

21

Timor

8,3

1200

8,95

22

Xiaojiang

5,8 (7,5*- nếu mở rộng hết đới)

23

Sulu

7,1

 

 

24

Sulawesi

6,8

 

 

H́nh 1. Các đới động đất khu vực Đông Nam Á: đường đậm nét là ranh giới
 đới động đất; đường gấp khúc nét nhỏ hơn là đường ranh giới quốc gia.


- Đới hút ch́m Java có độ sâu chúc ch́m đạt 700-750 km, cắm về phía bắc một góc 50-800 so với phương nằm ngang. Đây là đới có biểu hiện hoạt động động đất sâu nhất, có thể đạt gần 700 km độ sâu chấn tiêu động đất.

- Đới hút ch́m Philippines có thể đạt tới độ sâu 700-750 km, cắm về phía tây một góc 40-700 so với phương nằm ngang. Là một trong hai đới hút ch́m (Java và Philippines) có độ sâu chấn tiêu động đất tối đa đạt gần 700 km.

- Đới hút ch́m Manila có độ sâu chúc ch́m tối đa 400-450 km, cắm về phía đông và với một góc 60-800 so với phương nằm ngang tại khu vực trung tâm. Tại đầu cuối phía bắc và nam độ sâu chúc ch́m nhỏ hơn, đạt 200-300 km và với một góc cắm 30-500 so với phương nằm ngang. Độ sâu tối đa của chấn tiêu động đất dọc đới này nhỏ hơn 400 km.

2.  Biểu hiện quy luật yên tĩnh - động

Quy luật yên tĩnh - động trong động đất biểu hiện khá rơ nét ở nhiều nơi trên thế giới [5, 8, 9]. Nhằm t́m kiếm biểu hiện quy luật yên tĩnh - động và thiết lập diện tích vùng yên tĩnh, chúng tôi đă tiến hành [2]:

- Vẽ sơ đồ phân bố động đất theo số liệu đến hết năm 2007, có ghi chú thêm thời điểm phát sinh động đất;

 - Trận động đất mạnh nhất vào các thời điểm khác nhau được chọn làm tâm điểm cho việc quan sát đặc trưng phân bố động đất theo không - thời gian.

- Các so sanh về phân bố được thiết lập bằng cách phát hiện khoảng thời gian mà trong khoảng không gian lân cận trước động đất chính không xuất hiện động đất có chấn cấp nhỏ hơn hay bằng trận động đất ở trung tâm của khu vực quan sát;

- Diện tích vùng yên tĩnh được thiết lập trên cơ sở khoanh vùng diện tích mà ranh giới là đường biên phân chia đặc trưng hoạt động động đất cấp nhỏ hơn hoặc bằng động đất trung tâm vào một thời gian nhất định trước đó. Thông thường người ta dùng đường tṛn hoặc đường elip dùng để làm đường bao mà đại diện là bán kính đường tṛn hay hai bán kính của elip;

- Khoảng thời gian không xuất hiện động đất trong diện tích vùng bao gọi là khoảng thời gian yên tĩnh.

Bước đầu, xem xét các trận động đất mạnh với Ms ³ 6,0 trong khu vực các đới ranh giới mảng Đông Nam Á, chúng tôi phát hiện thấy gần 50 trận động đất có biểu hiện thời kỳ yên tĩnh trước động đất chính. Thời kỳ yên tĩnh động đất phụ thuộc nhiều vào độ lớn của động đất sẽ xuất hiện sau đó, đối với động đất có chấn cấp nhỏ hơn 7,0 độ Richter là nhỏ hơn 30 năm.

a. Đới Andaman: - Động đất năm 2005 với M = 7,3 thuộc đới Andaman có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 25 năm (1980-2005). Diện tích vùng yên tĩnh là 297×341 km.

- Động đất năm 2004 với M = 9,0 thuộc đới Andaman có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 28 năm (1976-2004). Diện tích vùng yên tĩnh là 50×77 km.

b. Đới Sumatra: - Động đất năm 2001 với M = 6,9 thuộc đới Sumatra có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 29 năm (1972-2001). Diện tích vùng yên tĩnh là 89×110 km.

- Động đất năm 2005 với M = 6,9 thuộc đới Sumatra có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 17 năm (1988-2005). Diện tích vùng yên tĩnh là 88×132 km.

c. Đới Java: - Động đất năm 1983 với M = 6,0 thuộc đới Java có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 10 năm (1973-2083). Diện tích vùng yên tĩnh là 88×99 km.

- Động đất năm 2002 với M = 6,3 thuộc đới Java có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 22 năm (1980-2002). Diện tích vùng yên tĩnh là 55×66 km.

- Động đất năm 1999 với M = 6,3 thuộc đới Java có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 14 năm (1985-1999). Diện tích vùng yên tĩnh là 69×126 km.

- Động đất năm 1999 với M = 6,1 thuộc đới Java có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 22 năm (1977-1999). Diện tích vùng yên tĩnh là 68×83 km.

- Động đất năm 2000, M6,5 thuộc đới Java có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 17 năm (1983 – 2000). Diện tích vùng yên tĩnh là 77 × 132 km.

d. Đới Timor: - Động đất năm 2000 với M = 6,2 thuộc đới Timor có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 19 năm (1981-2000). Diện tích vùng yên tĩnh là 76×80 km.

- Động đất năm 1998 với M = 8,3 thuộc đới Timor có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 17 năm (1981-1998). Diện tích vùng yên tĩnh là 46×66 km.

e. Đới Philippines: - Động đất năm 2005 với M = 7,1 thuộc đới Philippines có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 25 năm (1970-2005). Diện tích vùng yên tĩnh là 55×60 km.

- Động đất năm 2002 với M = 7,5 thuộc đới Philippines có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 26 năm (1976-2002). Diện tích vùng yên tĩnh là 45×65 km.

- Động đất năm 1996 với M = 7,0 thuộc đới Philippines có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 17 năm (1979-1996). Diện tích vùng yên tĩnh là 46×59 km.

f. Đới Manila: Động đất năm 1999 với M = 7,3 thuộc đới Manila có biểu hiện thời gian yên tĩnh là 25 năm (1974-1999). Diện tích vùng yên tĩnh là 46×59 km.

3. Biều đồ Gutenber-Richter

Biểu đồ Gutenber-Richter được các tác giả thiết lập trên cơ sở số liệu động đất có được từ năm 1964 đến hết năm 2007. Đây là giai đoạn có số liệu khá đầy đủ chung nhất cho toàn khu vực Đông Nam Á. Kết quả phân tích đối với từng đới phát sinh động đất thuộc vành đai động được tŕnh bày như sau [2]:

a.Đới Andaman:

Lgn = 5,8578 - 1,0603*M                (1)

b. Đới Sumatra:

Lgn =5,4772 - 0,8752*M                 (2)

c. Đới Java:  

Lgn = 6,2968 - 1,0334*M                (3)

d. Đới Timor:  

Lgn = 5,9007 - 0,9134*M                (4)

e. Đới Philippines:

Lgn = 6,5336 - 0,9886*M                (5)

f. Đới Manila:   

Lgn = 5,4755 - 0,8645*M    (6)

IV. DỰ BÁO TRUNG HẠN ĐỘNG ĐẤT KHU VỰC ĐÔNG NAM Á TRÊN CƠ SỞ THUẬT TOÁN M8

Chương tŕnh M8 đă được sử dụng nhằm dự báo động đất các đới ranh giới mảng Đông Nam Á. Danh mục động đất sử dụng là từ năm 1900 đến hết tháng 7/2005 (theo tài liệu của ISC, NOAA và của NEIC). Mức dự báo là M8,0+ và M7,0+; khu vực dự báo có bán kính R = 668 km (tương ứng với M0 = 8,0), R = 281 km (tương ứng với M0 = 7,0); lưới chia tọa độ bằng 50×50; thời hạn dự báo là 5 năm kể từ năm 2006.

1. Đầu tiên là việc ứng dụng thử nghiệm chương tŕnh M8 trong nhận dạng động đất ngày 26/12/2004 với M9,0 đă xảy ra tại Sumatra. Kết quả cho thấy động đất này đă được nhận dạng trên cơ sở số liệu động đất đến năm 2003 và thuật toán M8 với bán kính 667 km và 3000 km [2].

2. Sử dụng thuật toán M8 nhằm dự báo trung hạn động đất tại 2 đới Sumatra và Java. Kết quả dự báo được biểu diễn trong H́nh 2. Số liệu động đất được sử dụng là đến năm 2005. Theo kết quả này th́ từ năm 2006 đến 2010, động đất có nguy cơ xảy ra lớn nhất tại trung tâm đới Java, đông bắc và tây đới Sumatra.

Trận động đất gây sóng thần  M7,7 xảy ra vào hồi 8 giờ 19,25 phút (giờ GMT) ngày 17/7/2006 tại khu vực nam đảo Java, Indonesia đă được dự báo trước.

Thông số của động đất M7,7 ngày 17/7/2006 như sau: toạ độ: 9,3340 B; 107,2630 Đ (theo nguồn USGS); chấn cấp: 7,7 độ Richter; độ sâu chấn tiêu: 10 km.

Động đất đă gây sóng thần làm trên 100 người thiệt mạng ở Indonesia.

3. Đới động đất Manila được các nhà địa chấn Việt Nam coi như là đới có nguy cơ xuất hiện lớn nhất động đất gây sóng thần ảnh hưởng tới bờ biển và hải đảo Việt Nam. V́ vậy, việc dự báo động đất có M7,0+ (R = 281 km) trong phạm vi đới này là cần thiết và có ư nghĩa. Cũng tương tự quy tŕnh nghiên cứu dự báo động đất chung cho khu vực Đông Nam Á, đối với đới Manila chúng tôi cũng tiến hành hai bước:

- Bước một là sử dụng tài liệu có trước 1996 nhằm dự báo các động đất đă xảy ra trong thời kỳ từ 1996 đến 2000 có M7,0+. Danh mục động đất chính được lấy từ 1975 đến hết năm 1995. Bước thời gian tính (dt) bằng 0,5 năm. Kết quả cho thấy 5 trong số 6 động đất đă xảy ra trong phạm vi đới Manila và khu vực kế cận đă được nhận dạng chính xác theo thuật toán M8 [2].

H́nh 2. Những vùng diện tích được đánh dấu ô chéo là vùng được cảnh báo có nguy cơ xảy ra động đất trong thời kỳ 2006-2010 theo kết quả tính chương tŕnh M8.

H́nh 3. Kết quả áp dụng M8 trong dự báo động đất đới Manila giai đoạn 2006-2010. Diện tích phủ gạch chéo là khu vực có nguy cơ xảy ra động đất có M ³ 7,0.


- Bước thứ hai là sử dụng tài liệu động đất đến năm 2005 nhằm dự báo khu vực có nguy cơ xảy ra động đất với M7,0+ trong thời kỳ 2006-2010. Danh mục động đất chính được lấy từ 1980 đến năm 2005. Bước thời gian tính (dt) bằng 0,5 năm. Kết quả đă chỉ ra được khu vực có nguy cơ xảy ra động đất M7,0+ trong thời gian từ năm 2006 đến 2010, bao trùm phần diện tích bắc đới Manila và nam Đài Loan (H́nh 3).

Điều đáng nói ở đây là động đất Nam Đài Loan M7,2 xảy ra vào hồi 19 giờ 26,21 phút (giờ Hà Nội), ngày 26/12/2006 lại rơi chính vào khu vực dự báo này.

Thông số của động đất M7,1 ngày 26/12/2006 như sau (nguồn USGS): thời điểm xảy ra động đất: 12 giờ 26, 21 phút (giờ GMT); tọa độ: 21,8190 B; 120,5430 Đ; chấn cấp: 7,1 độ Richter; độ sâu chấn tiêu: 10 km.

VI. KẾT LUẬN

1. Động đất ở Đông Nam Á có độ sâu từ rất nông, dưới 10 km, đến rất sâu, 650-700 km. Chấn tiêu động đất sâu nhất thuộc các đới ranh giới mảng: Sumatra (650 km), Java (700 km), Timor (700 km), Phillippines (700 km); thứ đến là các đới thuộc ranh giới mảng c̣n lại như Indo-Burma (300 km), Andaman (500 km), Hamahera (350 km), Manila (400 km), Taiwan (350 km). Động đất nội mảng có độ sâu chấn tiêu nhỏ hơn 60 km.

2. Thời kỳ yên tĩnh động đất thuộc vành đai động bao quanh khu vực Đông Nam Á phụ thuộc nhiều vào chấn cấp của động đất sẽ xuất hiện sau đó, đối với động đất có chấn cấp nhỏ hơn 7,0 độ Richter là nhỏ hơn 30 năm. Theo công thức quan hệ toàn cầu giữa chiều dài nguồn phát sinh và độ lớn động đất th́ trận động đất năm 2004, M9,0 có lẽ là trận lớn nhất có thể đạt tới của đới Andaman; ở các đới động đất thuộc đới ranh giới mảng c̣n lại chưa thấy xuất hiện động đất cực đại. Giá trị động đất lớn nhất tại các đới này có thể là: Sumatra với M8,90; Java với M8,95; Timor với M8,95; Phillippines với M8,95; và Manila với M8,85.

3. Nguy cơ xảy ra động đất có chấn cấp lớn hơn hoặc bằng 7 trong thời kỳ 2006-2010 trên phạm vi đới ranh giới mảng Đông Nam Á có thể xuất hiện tại các đới phát sinh Sumatra, Java và Manila.

VĂN LIỆU

1. Cao Đ́nh Triều (Chủ biên), 2006. Thiết lập những tiếp cận thích hợp để nghiên cứu dự báo động đất lănh thổ Việt Nam. BC tổng kết nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo nghị định thư Việt Nam - Italia (2004-2006). Lưu trữ Viện VLĐC, Hà Nội, 169 trang.

2. Cao Đ́nh Triều (Chủ biên), 2008. Nghiên cứu dự báo động đất mạnh khu vực Đông Nam Châu Á có nguy cơ gây sóng thần ảnh hưởng đến bờ biển và hải đảo Việt Nam. BC tổng kết nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo nghị định thư Việt Nam - Italia (2006-2008). Lưu trữ Viện VLĐC, Hà Nội, 222 trang.

3. Krishna M.R., Sanu T.D., 2002. Shallow seismicity, stress distribution and crustal deformation pattern in Andaman - West Sunda Arc and Andaman Sea, NE India Sea. J. Seism., 6/2 : 1320-1338.

4. Lallemand S., Liu C.-S., Agelier J., Tsai Y.-B., 2001. Active subduction and collision in Southeast Asia. Earth Planet Sci. Lett., 333/1-2 : 1-7.

5. McGuire R.K., 2001. Deterministic vs. probabilistic earthquake hazards and risks. Soil Dyn. and Earthqu. Engin., 21 : 377-384.

6. Ngo Thi Ly, Gatinsky Yu.G., Kondorskaya N.V., 2000. Seismicity and modern geokinematic of SE Asia. Dokl. RAS, 374/2 : 247-251 (in Russian).

7. Rebetsky J.L., Marinin A.V., 2006. A field of pressure of Sumatra-Andaman earthquakes 26.12.2004: Model of a metastable condition of rocks. Geol. and Geoph., 47/11 : 1192-1206.

8. Rivera L., Shea K., Helmberger D., Natawidjaja D., 2002. A comparative study of the Sumatran subduction-zone earthquakes of 1935 and 1984. Bull. of the Seism. Soc. of Amer., 2/5 : 1721-1736.

9. Panza G., Craglietto A. & Suhadolc P., 1991. Source geometry of historical events retrieved by synthetic isoseismals. Tectonophysics, 193 : 173-184.

10. Sol S., Meltze A., Bürgmann R. et al., 2007. Geodynamics of the southeastern Tibetan Plateau from seismic anisotropy and geodesy. Geology, 35/6 : 563-566.

11. Wells D.L., Coppersmith K.J., 1994. New empirical relationships among magnitude, rupture length, rupture width, and surface displacement. Bull. of the Seism. Soc. of Amer., 84 : 974-1002.

12. NEIC, 2007. http://neic.usgs.gov/neis/epic/epic_rect.html.