PHÁT HIỆN HOÁ THẠCH ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG
Ở MỎ THAN NA DƯƠNG, HUYỆN LỘC B̀NH, TỈNH LẠNG SƠN.

MADELAINE BOHEM1, JERÔME PRIETO1, SIMON SCHNEIDER1,
NGUYỄN VIỆT HƯNG2, ĐỖ ĐỨC QUANG2, LA THẾ PHÚC2.

1 Trường Đại học Ludwig-Maximillians, Munich, CHLB Đức;
 2 Bảo tàng Địa chất Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lăo, Hà Nội.


Bể than Đệ tam Na Dương nằm trong một trũng kéo tách (pull-apart) có hướng TB - ĐN. Các thành tạo trầm tích trong trũng khá dày, đặc trưng cho tướng hồ lục địa chứa than. Các nhà địa chất Việt Nam đă phát hiện nơi đây có nhiều loại hoá thạch: Thực vật (bào tử phấn hoa, vết in lá, quả, hạt, gỗ hoá thạch), Thân mềm, Côn trùng…và cả động vật có xương sống. Đối với động vật có xương sống, mới chỉ t́m thấy hoá thạch đốt xương sống của Cá sấu nước ngọt (L. Ginsburg, 1992)[1] và Cá xương Mark W. Hamrick, Herbert H. Covert, Kevin C. McKinney và Trịnh Dánh)[2]. Đây là dấu hiệu ban đầu để tiếp tục t́m kiếm hoá thạch động vật có xương sống ở Na Dương [3].

Mỏ than Na Dương đă và đang được khai thác phục vụ chủ yếu cho nhà máy nhiệt điện Na Dương. Trầm tích ở đây có góc dốc 20 - 300 cắm về tây bắc, chủ yếu thuộc hệ tầng Na Dương chứa phong phú các hóa thạch sinh vật Đệ tam. Theo tài liệu lỗ khoan, hệ tầng Na Dương có chiều dày lớn nhất ~ 400 m và vỉa than nâu có giá trị kinh tế hơn cả đạt chiều dày tối đa 25 m. Kết quả của việc khai thác than đă làm lộ ra bề dày của hệ tầng ~180m. Dựa vào đặc điểm trầm tích có thể phân chia thành 4 phần theo chiều từ dưới lên trên như sau:

- Phần thứ nhất (dưới cùng): dày ~16 m; gồm đá sét, đá phiến sét nguồn gốc đầm hồ, màu xám tới nâu nhạt xen kẽ đá sét vôi, cát kết hạt nhỏ.

H́nh 1. Hóa thạch phân cá sấu ở Na Dương (Nguồn: Bảo tàng Địa chất, 2008)

- Phần thứ hai: dày khoảng 22 - 25 m; gồm bột sét, sét than, phiến sét than, thường chứa những đoạn thân cây gỗ hoá thạch (carbonat hoá) dài tới 5 m. Đây là phần chứa than nâu chất lượng cao của mỏ. Than và đá phiến sét than ở đây chứa nhiều pyrit và marcasit.              

- Phần thứ ba: dày ~100 m; gồm nhiều vỉa than nâu có chiều dày 1 - 3 m, chất lượng thấp, xen các lớp bột sét, sét màu nâu nhạt, sét vôi màu xám.

- Phần thứ tư (trên cùng): dày ~40 m, gồm chủ yếu các lớp bột sét phân lớp mỏng xen kẽ các lớp carbonat dày 10 - 20 cm; cát kết hạt nhỏ rất hiếm gặp và trở thành đặc trưng của mặt cắt ở phần này.

H́nh 2. Hoá thạch răng cá sấu Tomistoma sp. ở Na Dương (Ảnh: M. Bohem, 2008)

Trong toàn bộ mặt cắt, hoá thạch thực vật và động vật đều rất phong phú. Hóa thạch thực vật dễ dàng t́m thấy trong các lớp trầm tích cát-bột-sét kết và các lớp trầm tích chứa than. Hóa thạch động vật Thân mềm đă được t́m thấy ít nhất có hai loại Chân bụng (Gastropoda) đặc trưng (thuộc họ Melanopsidae và Viviparidae). Hai mảnh vỏ thuộc họ Unionidae có ít nhất 4 loài điển h́nh. Chúng dễ dàng được t́m thấy trong các trầm tích hạt nhỏ (như bột sét, sét), đặc biệt là trong các đá sét vôi, trong cát kết và cát bột kết. Vỏ của chúng dễ bị dập vỡ trong quá tŕnh tạo đá sớm.

Qua hai đợt khảo sát vào tháng 3/2008 và tháng 3/2009 của đoàn nghiên cứu cổ sinh do giáo sư M. Bohem (trường Đại học Ludwig-Maximillians, Munich, CHLB Đức) làm Trưởng đoàn cùng với các nhà địa chất Việt Nam ở Bảo tàng Địa chất đă thu thập được nhiều tài liệu quư ở Na Dương, trong đó có hóa thạch Động vật có xương sống, gồm một số loại cá sấu, rùa và các loài cá.

- Cá sấu: hoá thạch cá sấu đă được phát hiện khá tập trung ở các lớp phía dưới của phần thứ 2 trong mặt cắt, gồm có: phân cá sấu (H́nh 1), răng cá sấu và xương cá sấu. Những hoá thạch răng cá sấu đă được t́m thấy phản ánh rơ nét: ở đây có ít nhất 2 loại cá sấu đă từng sinh sống, gồm: Tomistoma sp. (H́nh 2), Barbinae sp.;


H́nh 3. A- Ptychogastridae; B- Geoemydidae 1; C- Geoemydidae 2;

D- Geoemydidae 3; E- Plastron; F- Neuralia. (Ảnh: M. Bohem, 2008)

     - Rùa: hoá thạch rùa đă được t́m thấy khá phong phú (yếm rùa, mai rùa), cho thấy có 6 loài đă từng sinh sống tại đây: 1 loài thuộc họ Trionychydae sp., 1 loài thuộc họ Ptychogastridae sp., 1 loài thuộc họ Testudinidae sp. và 3 loài thuộc họ Geoemydidae sp. (H́nh 3). Mai rùa thường phân bố khá tập trung (tới 8 cá thể), chúng tôi đă t́m thấy mai không chia khớp cùng với ít dấu vết răng cá sấu cắn vào mai. Nhiều dấu hiệu cho thấy có khá nhiều hoá thạch rùa c̣n bị vùi trong đất là mồi của cá sấu.

H́nh 4. Hoá thạch xương của động vật có vú

A, B: Hóa thạch Tragulidae

(A. Xương cẳng chân, B. Xương đùi);

C. Các mảnh xương vụn (Ảnh: M. Bohem, 2009)

Ngoài ra, đoàn khảo sát c̣n t́m thấy ít xương, vụn xương và răng động vật có vú. Với kinh nghiệm nghề nghiệp, chúng tôi nghĩ đó là hoá thạch của Tragulidae và tê giác (H́nh 4) cũng từng là mồi của cá sấu trước đây.

Trên cơ sở khảo sát thực địa, nhóm nghiên cứu chúng tôi cho rằng mặt cắt Đệ tam ở Na Dương rất lư thú, chứa đựng nhiều giá trị khoa học và đầy triển vọng. Đây có thể là một hệ sinh thái Miocen độc nhất vô nhị ở Nam Á và v́ vậy cần được tiếp tục nghiên cứu tiến tới xác định khu bảo tồn địa chất ở đây.

VĂN LIỆU

1. Ginsburg L., Le van Minh, Kieu Qui Nam et Dinh van Thuan, 1992. Première découvertes de vertébrés continentaux dans le Neogène du Nord du Vietnam. C. R. Acad. Sci. Paris, 314/II: 627-630. Paris.

2. Mark W. Hamrick, Herbert H. Covert, Trinh Dzanh, Kevin C. McKinney, 2001. Fossil Mammals from the Late Miocene of Vietnam. J. of Vertebrate Paleontology, 21/3: 633-636.

3. Trịnh Dánh (Chủ biên), 2004. Báo cáo “Nghiên cứu các khu bảo tồn địa chất ở Việt Nam”. Bảo tàng Địa chất, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.