PHÁT HIỆN HOÁ THẠCH
ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG
Ở MỎ THAN NA DƯƠNG, HUYỆN LỘC B̀NH, TỈNH
LẠNG SƠN.
MADELAINE
BOHEM1, JERÔME PRIETO1, SIMON SCHNEIDER1,
NGUYỄN VIỆT HƯNG2, ĐỖ ĐỨC
QUANG2, LA THẾ PHÚC2.
1 Trường Đại học
Ludwig-Maximillians,
2 Bảo tàng Địa
chất Việt
Bể
than Đệ tam Na Dương nằm trong một trũng
kéo tách (pull-apart) có hướng TB - ĐN. Các thành tạo trầm
tích trong trũng khá dày, đặc trưng cho tướng hồ
lục địa chứa than. Các nhà địa chất Việt
Mỏ
than Na Dương đă và đang được khai thác phục
vụ chủ yếu cho nhà máy nhiệt điện Na
Dương. Trầm tích ở đây có góc dốc 20 - 300
cắm về tây bắc, chủ yếu thuộc hệ
tầng Na Dương chứa phong phú các hóa thạch sinh vật
Đệ tam. Theo tài liệu lỗ khoan, hệ tầng Na
Dương có chiều dày lớn nhất ~ 400 m và vỉa
than nâu có giá trị kinh tế hơn cả đạt chiều
dày tối đa 25 m. Kết quả của việc khai thác
than đă làm lộ ra bề dày của hệ tầng ~180m.
Dựa vào đặc điểm trầm tích có thể phân
chia thành 4 phần theo chiều từ dưới lên trên
như sau:
- Phần thứ
nhất
(dưới cùng): dày ~16 m; gồm đá sét, đá phiến
sét nguồn gốc đầm hồ, màu xám tới nâu nhạt
xen kẽ đá sét vôi, cát kết hạt nhỏ.

H́nh 1. Hóa
thạch phân cá sấu ở Na Dương (Nguồn: Bảo
tàng Địa chất, 2008)
- Phần thứ
hai:
dày khoảng 22 - 25 m; gồm bột sét, sét than, phiến sét
than, thường chứa những đoạn thân cây gỗ
hoá thạch (carbonat hoá) dài tới 5 m. Đây là phần chứa
than nâu chất lượng cao của mỏ. Than và đá
phiến sét than ở đây chứa nhiều pyrit và
marcasit.
- Phần thứ
ba: dày
~100 m; gồm nhiều vỉa than nâu có chiều dày 1 - 3 m, chất
lượng thấp, xen các lớp bột sét, sét màu nâu nhạt,
sét vôi màu xám.
- Phần thứ tư (trên cùng): dày ~40 m,
gồm chủ yếu các lớp bột sét phân lớp mỏng
xen kẽ các lớp carbonat dày 10 - 20 cm; cát kết hạt nhỏ
rất hiếm gặp và trở thành đặc trưng của
mặt cắt ở phần này.

H́nh 2. Hoá thạch răng cá sấu Tomistoma sp. ở Na Dương (Ảnh: M. Bohem, 2008)
Trong
toàn bộ mặt cắt, hoá thạch thực vật và
động vật đều rất phong phú. Hóa thạch
thực vật dễ dàng t́m thấy trong các lớp trầm
tích cát-bột-sét kết và các lớp trầm tích chứa
than. Hóa thạch động vật Thân mềm đă
được t́m thấy ít nhất có hai loại Chân bụng
(Gastropoda) đặc trưng (thuộc họ Melanopsidae và
Viviparidae). Hai mảnh vỏ thuộc họ Unionidae có ít nhất
4 loài điển h́nh. Chúng dễ dàng được t́m thấy
trong các trầm tích hạt nhỏ (như bột sét, sét),
đặc biệt là trong các đá sét vôi, trong cát kết và
cát bột kết. Vỏ của chúng dễ bị dập vỡ
trong quá tŕnh tạo đá sớm.
Qua
hai đợt khảo sát vào tháng 3/2008 và tháng 3/2009 của
đoàn nghiên cứu cổ sinh do giáo sư M. Bohem (trường
Đại học Ludwig-Maximillians, Munich, CHLB Đức) làm
Trưởng đoàn cùng với các nhà địa chất Việt
Nam ở Bảo tàng Địa chất đă thu thập
được nhiều tài liệu quư ở Na Dương,
trong đó có hóa thạch Động vật có xương sống,
gồm một số loại cá sấu, rùa và các loài cá.
-
Cá sấu: hoá thạch cá sấu đă được phát hiện
khá tập trung ở các lớp phía dưới của phần
thứ 2 trong mặt cắt, gồm có: phân cá sấu (H́nh
1), răng cá sấu và xương cá sấu. Những hoá thạch
răng cá sấu đă được t́m thấy phản
ánh rơ nét: ở đây có ít nhất 2 loại cá sấu đă
từng sinh sống, gồm: Tomistoma
sp. (H́nh 2), Barbinae sp.;

H́nh 3. A-
Ptychogastridae; B- Geoemydidae 1; C- Geoemydidae 2;
D- Geoemydidae 3; E-
Plastron; F- Neuralia. (Ảnh: M. Bohem, 2008)
- Rùa: hoá thạch rùa đă
được t́m thấy khá phong phú (yếm rùa, mai rùa), cho
thấy có 6 loài đă từng sinh sống tại đây: 1
loài thuộc họ Trionychydae
sp., 1 loài thuộc họ
Ptychogastridae sp., 1 loài thuộc họ Testudinidae sp. và 3 loài thuộc họ Geoemydidae sp. (H́nh 3). Mai rùa
thường phân bố khá tập trung (tới 8 cá thể),
chúng tôi đă t́m thấy mai không chia khớp cùng với ít dấu
vết răng cá sấu cắn vào mai. Nhiều dấu hiệu
cho thấy có khá nhiều hoá thạch rùa c̣n bị vùi trong
đất là mồi của cá sấu.

H́nh 4. Hoá thạch
xương của động vật có vú
A, B: Hóa thạch
Tragulidae
(A. Xương cẳng
chân, B. Xương đùi);
C. Các mảnh
xương vụn (Ảnh: M. Bohem, 2009)
Ngoài ra, đoàn khảo sát c̣n t́m thấy
ít xương, vụn xương và răng động vật
có vú. Với kinh nghiệm nghề nghiệp, chúng tôi nghĩ
đó là hoá thạch của Tragulidae và tê giác (H́nh 4) cũng từng
là mồi của cá sấu trước đây.
Trên cơ sở khảo sát
thực địa, nhóm nghiên cứu chúng tôi cho rằng mặt
cắt Đệ tam ở Na Dương rất lư thú, chứa
đựng nhiều giá trị khoa học và đầy triển
vọng. Đây có thể là một hệ sinh thái Miocen độc
nhất vô nhị ở Nam Á và v́ vậy cần được
tiếp tục nghiên cứu tiến tới xác định
khu bảo tồn địa chất ở đây.
VĂN
LIỆU
1. Ginsburg L., Le van
Minh, Kieu Qui Nam et Dinh van Thuan, 1992. Première découvertes de vertébrés continentaux dans
le Neogène du Nord du Vietnam. C. R. Acad.
Sci. Paris, 314/II: 627-630. Paris.
2.
Mark W. Hamrick, Herbert H. Covert, Trinh Dzanh, Kevin C. McKinney, 2001. Fossil Mammals from the Late Miocene of
3. Trịnh
Dánh (Chủ biên), 2004. Báo cáo “Nghiên cứu các khu bảo tồn
địa chất ở Việt