ĐẶC
ĐIỂM BAO THỂ VÀ NHIỆT ĐỘ THÀNH TẠO
GRANITOID, QUẶNG THIẾC-WOLFRAM VÀ VÀNG Ở VIỆT
HOÀNG SAO
Tổng hội Địa chất Việt Nam, 6 Phạm
Ngũ Lăo, Hà Nội
Tóm tắt: Bao thể là những vật thể
nhỏ nằm bên trong khoáng vật, được tạo
thành trong quá tŕnh kết tinh của khoáng vật. Các loại
bao thể trong khoáng vật được phân thành 3 nhóm:
bao thể rắn, bao thể khí và bao thể lỏng - hỗn
hợp. Dựa vào thời gian thành tạo bao thể so với
khoáng vật bao chúng, có thể chia ra: bao thể nguyên sinh,
bao thể nguyên-thứ sinh và bao thể thứ sinh. Hiện
nay những phương pháp đồng hóa, nghiệm lạnh,
nung nổ, hóa, lư… được sử dụng để
nghiên cứu các loại bao thể, nhằm xác định
các thông số hóa-lư (nhiệt độ, thành phần, áp suất)
định lượng của môi trường tạo
khoáng và trên cơ sở đó luận giải chính xác nhiều
vấn đề về địa chất học.
Nghiên cứu các loại bao thể trong
thạch anh của granitoid khối Trúc Khê - Núi Điệng,
khối Thiện Kế và trong các mạch quặng thiếc-wolfram,
vàng ở Việt Nam bằng phương pháp đồng
hóa và nung nổ đạt được một số kết
quả sau:
1. Granitoid khối Trúc Khê - Núi Điệng
và Thiện Kế chứa các bao thể nguyên sinh: kết
tinh và thủy tinh với nhiệt độ thành tạo từ
600-700 đến 980oC.
2. Những bao thể trong thạch anh
của các kiểu quặng thiếc-wolfram ở Việt Nam
rất phong phú, đa dạng, thường gồm 5 loại
bao thể nguyên sinh: khí, khí-lỏng, nhiều pha, lỏng
carbonic và lỏng-khí, được thành tạo trong hai giai
đoạn: khí hóa - nhiệt dịch (300-500°C) với áp suất
650-1300 At và nhiệt dịch nhiệt độ cao - trung
b́nh (145-390°C) với áp suất 750-1210 At. Quặng thiếc-wolfram
tập trung cao, thường có giá trị công nghiệp
được thành tạo ở giai đoạn nhiệt dịch
nhiệt độ cao - trung b́nh (145-390°C).
3. Những bao thể trong thạch anh
của các kiểu vàng gốc ở Việt Nam rất phong
phú, đa dạng; thường gặp 3 loại bao thể
nguyên sinh: khí-lỏng, lỏng-khí, nhiều pha, được
thành tạo ở giai đoạn nhiệt dịch nhiệt
độ cao - trung b́nh (230-370°C) và trung b́nh - thấp
(120-290°C). Quặng vàng gốc tập trung cao, thường
có giá trị công nghiệp được thành tạo ở
giai đoạn nhiệt dịch nhiệt độ trung
b́nh - thấp (120-290°C).
Tiếp
theo số 308/9-10/2008
Nhiệt
độ đồng hoá của các loại bao thể trong
mạch thạch anh - tourmalin-cassiterit thay đổi trong khoảng
230-470°C. Nhiệt độ nổ đồng loạt của
các bao thể trong mạch này thay đổi từ 290 đến
325°C. Trên những số liệu đó đă xây dựng
được biểu đồ thông số nhiệt-động
của mạch thạch anh - tourmalin-cassiterit có áp suất của
môi trường tạo khoáng là 650-1300 At (H́nh 9.I).
Nhiệt độ đồng hoá của
những bao thể trong thạch anh của mạch thạch
anh - arsenopyrit-pyrrotin-cassiterit thay đổi từ 215 đến
300°C. Nhiệt độ nổ đồng loạt của
các bao thể thay đổi từ 230 đến 270°C. Áp suất
của môi trường tạo khoáng là 750-1160 At
(H́nh 9.II).

H́nh
9. Biểu đồ nhiệt-động của mạch
quặng thiếc khu Trúc Khê, vùng Tam Đảo.
Ghi chú:
II. Thạch anh của mạch thạch
anh - arsenopyrit-pyrrotin-cassiterit.
b. Đặc điểm
bao thể và nhiệt độ tạo quặng wolfram ở
Thiện Kế
Mỏ
wolfram Thiện Kế nằm ở huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang. Quặng hoá ở đây phân
bố trong granit khối Thiện Kế và trong ryolit Tam
Đảo. Có hai kiểu quặng: đới greisen và mạch
thạch anh - wolfram.
Thạch
anh của đới greisen chứa bao thể nguyên sinh kết
tinh và khí-lỏng. Thành phần pha của bao thể kết
tinh: thể rắn 80-90 %, bao quanh thể rắn là thể lỏng
10-20 % thể tích bao thể (H́nh 10.a). Bao thể khí-lỏng
có dạng oval, h́nh nhiều cạnh với kích thước
10-20 µ, có thành phần pha: khí 70-90 %
lỏng 10-30 % (H́nh 10.b). Nhiệt độ đồng
hoá trong khoảng 305-400°C.
Thạch
anh của mạch thạch anh - wolfram chứa bao thể lỏng-
khí có dạng oval, h́nh ống, nhiều cạnh với thành
phần pha: lỏng 70-90 % khí 10-30 % (H́nh 10.c, d). Nhiệt
độ đồng hoá trong khoảng 180-370°C.
Biểu
đồ nổ bao thể của mạch thạch anh -
wolfram ở Thiện Kế đặc trưng các đỉnh
nổ cực đại khoảng nhiệt độ
180-380 và 180-320°C (H́nh 11.b, c, d, e).
Dựa
vào nhiệt độ đồng hoá bao thể và nhiệt
độ nổ cực đại đồng loạt, áp
suất tạo mạch thạch anh - wolfram ở Thiện Kế
tính được là 400-1210 At (H́nh 12).
c. Đặc
điểm bao thể và nhiệt độ tạo quặng
thiếc-wolfram ở Bù Me
Mỏ
thiếc-wolfram Bù Me nằm ở huyện Thường Xuân,
tỉnh Thanh Hoá. Ở đây, các thân quặng dạng mạch,
bướu phân bố trong granit, greisen và cả trong đá
phun trào, thuộc kiểu quặng thạch anh -
wolfram-cassiterit.

Thạch
anh của mạch quặng thiếc-wolfram ở Bù Me chứa
5 loại bao thể nguyên sinh: khí, khí-lỏng, nhiều pha, lỏng
nhiều pha và lỏng-khí.
Các
bao thể khí và khí-lỏng trong thạch anh của đới
greisen có dạng h́nh nhiều cạnh, oval, h́nh ống với
kích thước 5-30 µ. Nhiệt độ đồng hoá
trong khoảng 315-406°C đặc trưng cho nhiệt độ
tạo quặng wolfram-cassiterit trong đới greisen.
Các
bao thể nhiều pha, lỏng nhiều pha và lỏng-khí có
dạng h́nh nhiều cạnh, oval, h́nh ống với kích
thước 10-30 µ. Thành phần pha trong các bao thể: khí
15-50 %, lỏng 20-50 %, rắn 20-40 % thể tích bao thể.
Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng 200-390°C,
đặc trưng cho quặng thạch anh - wolfram-cassiterit
thành tạo ở giai đoạn nhiệt dịch sau
greisen.

H́nh 11. Biểu đồ nổ bao
thể trong thạch anh của pegmatit và của mạch quặng
wolfram
khu Thiện Kế, vùng Tam
Đảo.
Ghi chú:
a. Thạch anh của pegmatit;
b, c. Thạch anh của mạch thạch anh - wolfram; d, e. Wolframit của mạch
thạch anh - wolfram.

H́nh
12. Biểu đồ nhiệt-động của mạch
quặng wolfram khu Thiện Kế, vùng Tam Đảo.
d. Đặc
điểm bao thể và nhiệt độ tạo quặng
thiếc ở Suối Bắc.
Mỏ
thiếc Suối Bắc thuộc huyện Quỳ Châu, tỉnh
Nghệ An. Ở đây, quặng hoá nằm trong đá phiến,
thuộc thành hệ quặng cassiterit-silicat-sulfur, gồm hai
kiểu quặng thạch anh - tourmalin-cassiterit và thạch
anh arsenopyrit-pyrrotin- cassiterit [1].
-
Thạch anh của quặng thạch anh - tourmalin-cassiterit chứa
bao thể nguyên sinh: khí và khí-lỏng. Những bao thể này
có dạng h́nh nhiều cạnh, oval với kích thước
5-20 µ. Thành phần pha trong các bao thể: khí-lỏng, khí 70-90
%, lỏng 10-30 % thể tích bao thể. Nhiệt độ
đồng hoá trong khoảng 310-400°C.
-
Thạch anh của quặng thạch anh -
arsenopyrit-pyrrotin-cassiterit chứa các bao thể nguyên sinh: nhiều
pha, lỏng-khí và lỏng nhiều pha.
Các
bao thể nhiều pha có dạng h́nh nhiều cạnh, oval với
kích thước 10-15 µ, Thành phần pha trong bao thể: lỏng
70 %, khí 20 %, rắn 10 % thể tích bao thể. Nhiệt độ
đồng hoá trong khoảng 245-310°C.
Các
bao thể lỏng-khí có dạng h́nh nhiều cạnh, h́nh ống
với kích thước 10-20 µ. Thành phần pha trong bao thể:
lỏng 60-70 %, khí 30-40 % thể tích bao thể. Nhiệt độ đồng hoá
trong khoảng 250-290°C.
Các
bao thể lỏng nhiều pha có dạng h́nh nhiều cạnh
với kích thước 20-30 µ. Thành phần pha trong bao thể:
lỏng 70 %, lỏng carbonic 20 %, khí carbonic 10 % thể tích bao
thế. Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng
220-260°C.
Trên
cơ sở những tài liệu bao thể trên, dung dịch
tạo quặng thiếc Suối Bắc có độ băo hoà
cao, chứa nhiều carbonic. Kiểu quặng thạch anh -
tourmalin-cassiterit thành tạo ở nhiệt độ
310-400°C, c̣n kiểu quặng thạch anh -
arsenopyrit-pyrrotin-cassiterit thành tạo ở nhiệt độ
220-310°C.
e. Đặc
điểm bao thể và nhiệt độ tạo quặng
wolfram ở Bà Nà.
Điểm
quặng wolfram Bà Nà thuộc huyện Thuư Loan, tỉnh Quảng
Thạch
anh trong đới greisen chứa wolfram có các bao thể nguyên
sinh: khí và khí-lỏng.
Các
bao thể khí có dạng h́nh cầu, oval với kích thước
5-15 µ.
Các
bao thể khí-lỏng có dạng h́nh nhiều cạnh, oval,
h́nh ống với kích thước 5-20 µ. Thành phần pha
trong bao thể: khí 80-90 %, lỏng 10-20 % thể tích bao thể.
Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng 310-380°C.
Thạch
anh trong các mạch quặng wolfram chứa các bao thể
nguyên sinh: nhiều pha và lỏng-khí.
Các
bao thể nhiều pha có dạng h́nh nhiều cạnh, oval với
kích thước 10-20 µ. Thành phần pha trong bao thể: lỏng
10-40 %, khí 20-30 %, rắn 30-60 % thể tích bao thể. Nhiệt
độ đồng hoá trong khoảng 340-390°C.
Các
bao thể lỏng-khí có dạng h́nh nhiều cạnh, h́nh ống,
oval với kích thước 15-40 µ. Thành phần pha trong bao thể:
lỏng 60-80 %, khí 20-40 %, thể tích bao thể. Nhiệt
độ đồng hoá trong khoảng 190-270°C.
Dựa
trên những tài liệu nêu trên, quặng wolfram Bà Nà
được thành tạo trong 2 giai đoạn, giai đoạn
tạo quặng wolfram trong greisen với nhiệt độ
310-380°C và giai đoạn nhiệt dịch 190-270°C.
f. Đặc
điểm bao thể và nhiệt độ tạo quặng
thiếc-wolfram ở Sa Vỏ
Mỏ
thiếc-wolfram Sa Vỏ thuộc huyện Di Linh, tỉnh Lâm
Đồng. Quặng hoá phân bố trong granitoiđ Định
Quán và trong trầm tích lục nguyên hệ tầng La Ngà.
Mạch
quặng thiếc-wolfram Sa Vỏ chứa các bao thể nguyên
sinh: khí-lỏng, nhiều pha và lỏng-khí.
Các
bao thể khí-lỏng phân bố rải rác, có dạng h́nh cầu,
oval, nhiều cạnh với kích thước 10-20 µ. Thành phần
pha trong bao thể: khí 70-90 %, lỏng
10-30 % thể tích bao thể. Nhiệt độ đồng
hoá trong khoảng 390-460°C.
Các
bao thể nhiều pha phân bố rải rác, có dạng h́nh
nhiều cạnh, oval với kích thước 10-40 µ. Thành phần
pha trong bao thể: lỏng 50-60 %, khí 10-20 %, rắn 20-30 % thể
tích bao thể. Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng
305-340°C.
Các
bao thể lỏng-khí có số lượng lớn trong mẫu,
có h́nh nhiều cạnh, oval, h́nh ống với kích thước
10-50 µ. Thành phần pha trong bao thể: lỏng 70-80 %, khí
20-30 % thể tích bao thể. Nhiệt độ đồng
hoá trong khoảng 146-280°C.
Dựa
vào những tài liệu trên, quặng thiếc-wolfram Sa Vỏ
được thành tạo trong hai giai đoạn: khí thành
- nhiệt dịch (305-460°C) và nhiệt dịch nhiệt
độ trung b́nh (146-280°C).
Dựa
trên các kết quả nghiên cứu bao thể và nhiệt
độ tạo các mạch quặng thiếc-wolfram ở
Việt
1.
Những bao thể trong thạch anh của các loại quặng
thiếc-wolfram rất phong phú, đa dạng, kích thước
lớn, thường gồm 5 loại bao thể nguyên sinh:
khí, khí-lỏng, nhiều pha, lỏng-khí và lỏng nhiều
pha, đặc biệt rất phổ biến các loại
bao thể nhiều pha, bao thể lỏng nhiều pha, đặc
trưng cho dung dịch tạo quặng thiếc-wolfram ở
nhiều nước trên thế giới.
2.
Quặng thiếc-wolfram được thành tạo trong hai
giai đoạn đặc trưng: giai đoạn khí thành
- nhiệt dịch với khoảng nhiệt độ
300-500°C và giai đoạn nhiệt dịch nhiệt độ
cao - trung b́nh (145-390°C).
3.
Quặng thiếc-wolfram tập trung cao, có giá trị công nghiệp
được thành tạo ở giai đoạn nhiệt dịch
nhiệt độ cao - trung b́nh (145- 390°C).
3. Đặc
điểm bao thể và nhiệt độ tạo quặng
vàng Việt
Ở
Việt Nam, vàng gốc đă được t́m thấy ở
nhiều tỉnh, tập trung nhiều ở Cao Bằng, Bắc
Cạn, Hoà B́nh, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Phú Yên, Đồng
Nai. Quặng hoá vàng có các kiểu: vàng - thạch anh, vàng - thạch
anh - tourmalin, vàng - thạch anh - sulfur, vàng-bạc, vàng-antimon,
trong đó kiểu quặng vàng - thạch anh - sulfur có giá trị
nhất.
a. Đặc
điểm bao thể và nhiệt độ tạo quặng
vàng ở Địch Quả.
Điểm
quặng vàng Địch Quả thuộc huyện Thanh
Sơn, tỉnh Phú Thọ. Ở đây có ba đới quặng:
Tân Phong - Lũng Phít, Dốc Than - Cự Thắng và Suối
Cú - Làng Vùng (Phạm Hoè, 1995).
Thạch
anh ở mạch quặng thạch anh -
pyrit-chalcopyrit-pyrrotin-galenit thuộc đới quặng Dốc
Than - Cự Thắng chứa bao thể nguyên sinh lỏng-khí.
Những bao thể này có dạng h́nh oval, nhiều cạnh với
kích thước 5-15 µ. Thành phần pha trong bao thể: lỏng
70-90 %, khí 10-30% thể tích bao thể. Nhiệt độ
đồng hoá trong khoảng 192-240°C.
Thạch
anh của mạch quặng thạch anh - tourmalin-pyrit-vàng thuộc
đới quặng Suối Cú - Làng Vùng chứa các bao thể
nguyên sinh: lỏng-khí, nhiều pha.
Bao
thể lỏng-khí có dạng h́nh oval, nhiều cạnh, h́nh ống
với kích thước 10-25 µ. Thành phần pha trong bao thể:
lỏng 60-80 %, khí 20-40 % thể tích bao thể. Nhiệt
độ đồng hoá trong khoảng 215-260°C.
Bao
thể nhiều pha có dạng h́nh oval, h́nh nhiều cạnh,
ngọn lửa với kích thước 15-30 µ. Thành phần
pha trong bao thể: lỏng 55-65 %, khí 10-20 %, rắn 10-15 % thể
tích bao thể. Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng
225-270°C.
Như
vậy, dựa trên kết quả xác định trên, quặng
vàng Địch Quả được thành tạo ở
giai đoạn nhiệt dịch nhiệt độ trung
b́nh (192-270°C).
b. Đặc
điểm bao thể và nhiệt độ tạo quặng
vàng-antimon ở Tà Sỏi
Mỏ
vàng-antimon Tà Sỏi thuộc huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Ở đây quặng
hoá có hai kiểu: thạch anh - vàng và thạch anh -
antimon-vàng.
Thạch
anh của mạch thạch anh - vàng chứa các loại bao
thể nguyên sinh: khí-lỏng và lỏng-khí.
Các
bao thể khí-lỏng có dạng h́nh nhiều cạnh, h́nh cầu,
với kích thước 5-10 µ. Thành phần pha trong bao thể:
khí 70-80 %, lỏng 20-30 % thể tích bao thể. Nhiệt
độ đồng hoá trong khoảng 275-315°C.
Các
bao thể lỏng-khí có dạng h́nh nhiều cạnh, oval,
h́nh ống với kích thước 10-15 µ. Thành phần pha
trong bao thể: lỏng 60-80 %, khí 20-40 % thể tích bao thể.
Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng 190-255°C.
Thạch
anh của mạch thạch anh - antimon-vàng chứa các bao thể
nguyên sinh: lỏng-khí, nhiều pha, lỏng nhiều pha.
Các
bao thể lỏng-khí có dạng h́nh oval, h́nh nhiều cạnh
với kích thước 10-20 µ. Thành phần pha trong bao thể:
lỏng 60-80 %, khí 20-40 % thể tích bao thể. Nhiệt
độ đồng hoá trong khoảng 215-270°C.
Các
bao thể nhiều pha có dạng h́nh nhiều cạnh với
kích thước 20-25 µ. Thành phần pha trong bao thể: lỏng
70 %, lỏng-carbonic 20 %, khí-carbonic 10 % thể tích bao thể.
Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng 210-295°C.
Dựa
vào những số liệu trên, ta thấy quặng
vàng-antimon Tà Sỏi được thành tạo trong khoảng
nhiệt độ 190-315°C thuộc giai đoạn nhiệt
dịch nhiệt độ trung b́nh.
c. Đặc
điểm bao thể và nhiệt độ tạo quặng
vàng ở Nhâm
Điểm
quặng vàng Nhâm thuộc xă Nhâm, huyện A Lưới, Thừa
Thiên - Huế.
Thạch
anh trong mạch thạch anh - pyrit-chalcopyrit- magnetit-hematit-vàng
chứa các loại bao thể nguyên sinh: khí-lỏng, lỏng-khí
và nhiều pha.
Các
bao thể khí-lỏng phân bố rải rác, có dạng h́nh
nhiều cạnh, oval, h́nh ống với kích thước
5-20 µ. Thành phần pha trong bao thể: khí 60-90 %, lỏng 10-40
% thể tích bao thể. Nhiệt độ đồng hoá
trong khoảng 215-295°C.
Các
bao thể lỏng-khí phân bố nhiều trong mẫu, có dạng
h́nh nhiều cạnh, oval, h́nh ống với kích thước
5-25 µ. Thành phần pha trong bao thể: lỏng 70-90 %, khí 10-30
% thể tích bao thể. Nhiệt độ đồng hoá
trong khoảng 133-215°C.
Các
bao thể nhiều pha phân bố rải rác trong mẫu, có dạng
h́nh nhiều cạnh với kích thước 10-25 µ. Thành phần
pha trong bao thể: lỏng 50-60 %, khí 10-30 %, rắn 30 % thể
tích bao thể. Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng
155-185°C.
Qua
kết quả phân tích bao thể trong mạch quặng vàng ở
Nhâm có thể nhận xét là các mạch thạch anh -
pyrit-chalcopyrit-magnetit-hematit-vàng xuyên cắt các đá khác nhau của
hệ tầng Núi Vú được thành tạo giai đoạn
nhiệt dịch nhiệt độ trung b́nh (215-295°C) và giai
đoạn nhiệt dịch nhiệt độ trung b́nh -
thấp (133-215°C).
d. Đặc
điểm bao thể và nhiệt độ tạo quặng
vàng vùng Trà Nú - Phước Thành
Dải
khoáng hoá vàng Trà Nú - Phước Thành nằm ở phía N-TN tỉnh
Quảng Nam và B-TB Quảng Ngăi, gần mỏ vàng Bồng
Miêu. Dải khoáng hóa này gồm nhiều điểm vàng phân
bố rải rác, có các kiểu khoáng hoá: thạch anh -
pyrit-vàng trong granit và thạch anh - sulfur-vàng trong đá biến
chất.
Thạch anh của mạch thạch anh - pyrit-vàng trong
granit chứa các loại bao thể nguyên sinh: khí-lỏng và lỏng-khí.
Các
bao thể khí-lỏng có dạng h́nh nhiều cạnh, oval với
kích thước 10-25 µ. Thành phần pha trong bao thể: khí
70-90 %, lỏng 10-30 % thể tích bao thể. Nhiệt độ
đồng hoá trong khoảng 270-480°C.
Các
bao thể lỏng-khí có số lượng nhiều trong mẫu,
dạng h́nh nhiều cạnh, oval, h́nh ống với kích
thước 15-40 µ. Thành phần pha trong bao thể: lỏng
60-80 %, khí 20-40 % thể tích bao thể. Nhiệt độ
đồng hoá trong khoảng 180-280°C.
Thạch
anh của mạch thạch anh - sulfur-vàng trong đá biến
chất chứa các bao thể nguyên sinh: khí-lỏng, lỏng-khí
và nhiều pha.
Các
bao thể khí-lỏng có dạng h́nh nhiều cạnh, oval với
kích thước 5-15 µ. Thành phần pha trong bao thể: khí
60-80 %, lỏng 20-40 % thể tích bao thể. Nhiệt độ
đồng hoá trong khoảng 250-360°C.
Các
bao thể lỏng-khí có số lượng nhiều trong mẫu,
dạng nhiều cạnh, h́nh ống với kích thước
10-30 µ. Thành phần pha trong bao thể: lỏng 70-80 %, khí
20-30 % thể tích bao thể. Nhiệt độ đồng
hoá trong khoảng 160-250°C.
Các
bao thể nhiều pha phân bố rải rác trong mẫu, có dạng
h́nh nhiều cạnh với kích thước 15-30 µ. Thành phần
pha trong bao thể: lỏng 40-60 %, khí 10-30 %, rắn 10-20 % thể
tích bao thể. Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng
170-256°C.
Như
vậy, các mạch quặng vàng vùng Trà Nú - Phước Thành
được thành tạo trong hai khoảng nhiệt độ
250-408 và 160-280°C, tương ứng với giai đoạn
nhiệt dịch nhiệt độ cao - trung b́nh và trung b́nh
- thấp. Mạch thạch anh - sulfur-vàng trong đá biến
chất được thành tạo trong giai đoạn nhiệt
dịch nhiệt độ trung b́nh - thấp có hàm lượng
vàng cao .
e. Đặc
điểm bao thể và nhiệt
độ tạo quặng vàng ở Trảng Sim
Điểm
quặng vàng Trảng Sim thuộc tỉnh Phú Yên. Ở
đây, quặng hoá vàng là kiểu thạch anh - sulfur-vàng.
Thạch
anh của mạch thạch anh - sulfur-vàng chứa các bao thể
nguyên sinh: khí-lỏng, nhiều pha và lỏng-khí .
Các
bao thể khí-lỏng có dạng h́nh nhiều cạnh, oval,
h́nh ống với kích thước 10-40 µ. Thành phần pha
trong bao thể: khí 60-70 %, lỏng 30-40 % thể tích bao thể.
Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng 317-337°C.
Các
bao thể nhiều pha có dạng h́nh nhiều cạnh, h́nh ống
với kích thước 10-40 µ. Thành phần pha trong bao thể:
lỏng 60 %, khí 10 %, rắn 30 % thể tích bao thể. Nhiệt
độ đồng hoá trong khoảng 117-237°C.
Các
bao thể lỏng-khí có dạng h́nh nhiều cạnh, h́nh ống,
oval với kích thước 5-50 µ. Thành phần pha trong bao thể:
lỏng 60-90 %, khí 10-40 % thể tích bao thể. Nhiệt
độ đồng hoá trong khoảng 113-285°C.
Như
vậy, quặng vàng Trảng Sim được thành tạo
trong hai khoảng nhiệt độ là 317-337 và 113-285°C,
đặc trưng cho loại quặng vàng có nguồn gốc
nhiệt dịch nhiệt độ cao và trung b́nh - thấp.
f. Đặc
điểm bao thể và nhiệt độ tạo quặng
vàng ở Krông Pha
Điểm
quặng vàng Krông Pha thuộc huyện Ninh Sơn, tỉnh
Ninh Thuận. Ở đây quặng hoá vàng là kiểu thạch
anh - arsenopyrit-vàng.
Thạch
anh của mạch thạch anh - arsenopyrit-vàng chứa các loại
bao thể nguyên sinh: khí-lỏng, nhiều pha và lỏng-khí.
Các
bao thể khí-lỏng có dạng h́nh nhiều cạnh, oval với
kích thước 10-20 µ. Thành phần pha trong bao thể: khí
80-90 %, lỏng 10-20 % thể tích bao thể. Nhiệt độ
đồng hoá trong khoảng 305-367°C.
Các
bao thể nhiều pha có dạng h́nh nhiều cạnh, h́nh ống
với kích thước 10-30 µ. Thành phần pha trong bao thể:
lỏng 30-65 %, khí 15-20 %, rắn 10-50 % thể tích bao thể.
Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng 215-263°C.
Các
bao thể lỏng-khí có dạng h́nh nhiều cạnh, h́nh ống,
oval với kích thước 5-40 µ. Thành phần pha trong bao thể:
lỏng 60-85 %, khí 15-40 % thể tích bao thể. Nhiệt
độ đồng hoá trong khoảng 183-265°C.
Như vậy, quặng vàng Krông Pha
có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ cao
(305-367°C) và trung b́nh (183-265°C).
g. Đặc
điểm bao thể và nhiệt độ tạo quặng
vàng ở Kôn Chrô
Điểm quặng vàng Kôn Chrô thuộc
tỉnh Gia Lai. Ở đây quặng hoá là kiểu thạch
anh - sulfur đa kim - vàng.
Thạch
anh của mạch quặng chứa các bao thể nguyên sinh:
khí-lỏng, nhiều pha và lỏng khí.
Các
bao thể khí-lỏng có dạng h́nh ống, oval với kích
thước 5-20 µ. Thành phần pha trong bao thể: khí 60-90 %,
lỏng 10-40 % thể tích bao thể. Nhiệt độ
đồng hoá trong khoảng 310-330°C.
Các
bao thể nhiều pha có số lượng rất ít trong mẫu,
h́nh ống với kích thước 10-15 µ. Thành phần pha
trong bao thể: lỏng 50-65 %, khí 15-30 %, rắn 10 % thể
tích bao thể. Nhiệt độ đồng hóa trong khoảng
250-285°C.
Các
bao thể lỏng-khí có dạng h́nh nhiều cạnh, h́nh ống,
oval với kích thước từ vài đến 30 µ. Thành phần
pha trong bao thể: lỏng 70-90 %, khí 10-30 % thể tích bao thể.
Nhiệt độ đồng hoá trong khoảng 121-292°C.
Như
vậy, điểm vàng Kôn Chrô có nguồn gốc nhiệt dịch
nhiệt độ cao (310-330°C) và trung b́nh - thấp (121-292°C).
Qua
kết quả nghiên cứu bao thể trong mạch quặng của các mỏ
và điểm vàng gốc ở Việt
1.
Những bao thể trong thạch anh của các kiểu vàng gốc
rất đa dạng, phong phú, thường gặp ba loại
bao thể nguyên sinh: khí-lỏng, lỏng-khí và nhiều pha.
Đặc biệt bao thể lỏng-khí có số lượng
lớn và rất phổ biến;
2.
Quặng vàng gốc được thành tạo ở giai
đoạn nhiệt dịch nhiệt độ cao - trung
b́nh (230 -370°C) và trung b́nh - thấp (120-290°C);
3.
Quặng vàng gốc tập trung cao, thường có giá trị
công nghiệp, được thành tạo ở giai đoạn
nhiệt dịch nhiệt độ trung b́nh - thấp
(120-290°C).
Tổng
quát lại, những kết quả nghiên cứu bao thể
trong khoáng vật của granitoid, pegmatit và của các kiểu
quặng thiếc-wolfram, vàng ở Việt Nam tŕnh bày trên
đă làm rơ điều kiện thành tạo của môi
trường địa chất, nguồn gốc, các giai
đoạn thành tạo và triển vọng quặng phân bố
trên mặt và dưới sâu. Nhưng đây chỉ là những
kết quả bước đầu, v́ hiện nay ở
nước ta chưa đủ điều kiện để
tiến hành đồng bộ các phương pháp nghiên cứu
bao thể trong khoáng vật.
Mong
rằng các cơ quan địa chất của Nhà nước
quan tâm đầu tư trang thiết bị, cán bộ chuyên
sâu cho lĩnh vực nghiên cứu mới này, để góp
phần phát triển toàn diện khoa học địa chất
ở nước ta.
VĂN LIỆU
1. Dương Đức Kiêm, 1985. Phân loại khoáng
sản thiếc Việt
2. Đinh Văn Diễn, Phạm
Ḥe, Đinh Thanh B́nh, 1995. Các thành tạo biến chất trao
đổi và quặng hóa vàng vùng Địch Quả. ĐC,
KS và DK VN, 2 : 235-246. Cục Địa chất Việt Nam,
Hà Nội.
3. Đopjikov A.E. (Chủ biên),
1965.
Địa chất miền Bắc Việt
4. Ermakov N.P., 1972. Hệ địa
hóa bao thể trong khoáng vật. Nxb Nedra, Moskva (tiếng
Nga).
5. Ermakov N.P., 1979. Nhiệt áp - địa
hóa. Nxb Nedra, Moskva (tiếng Nga).
6. Hoàng Sao, 1979. Đặc điểm
khoáng vật - thạch học và điều kiện thành tạo
granitoiđ Mezozoi vùng Tam Đảo. Luận án PTS. Thư
viện QG., Hà Nội.
7. Hoàng Sao, 2000. Các phương
pháp nghiên cứu bao thể
trong khoáng vật. Thông tin KH - KTĐC, 1-2. Trung tâm TT-LT
ĐC, Hà Nội.
8. Nguyễn Nghiêm Minh, Phạm Huy
Siêu, 1967.
Vài nét về đặc điểm khoáng vật cộng
sinh trong quặng thiếc thuộc loại caxiterit-silicat
vùng mỏ Sơn Dương. Địa chất, 65 :
10-18. Hà Nội.
9. Phạm Ḥe, 1995. Đặc điểm
các đá biến chất trao đổi nhiệt dịch và
quặng hóa vàng vùng Địch Quả, Thanh Sơn, Vĩnh
Phú. Tt luận án PTS ĐC-KV. Thư viện QG., Hà Nội.
10. Roedder E., 1984. Fluid inclusion. Review
of Mineralogy, 12. Min. Soc. of
11. Shepherd I.J., 1985. A practical guide to
fluid inclusion studies.
12. Trần Đ́nh Sâm, 1995. Cấu trúc địa
chất mỏ vàng-antimon Tà Sỏi và triển vọng khoáng
hóa ở phần sâu. ĐC, KS và DKVN, 2 : 277-285. Cục
Địa chất VN, Hà Nội.
13. Trần Văn Trị (Chủ
biên), 2000. Tài nguyên khoáng sản Việt
14. Vơ Văn B́nh (Chủ biên),
1998.
Đặc điểm khoáng hóa và phân vùng triển vọng
quặng vàng vùng nam Trà Nú - Phước Thành, tỉnh Quảng