XÁC ĐỊNH CHUYỂN
DỊCH TUYỆT ĐỐI
KHU VỰC LƯỚI GPS TAM ĐẢO - BA V̀
VY QUỐC
HẢI
Viện Địa chất, Ngơ 84, Phố Chùa Láng, Đống
Đa, Hà Nội
Tóm tắt: Chu kỳ 1, vào năm 1996,
điểm HUN1 thuộc lưới GPS Tam Đảo-Ba V́
được đo với 5 ca đo 24 giờ; chu kỳ
2, năm 2006, cũng tại điểm này số liệu
GPS được thu thập với 12 ca đo 24 giờ bằng
máy thu GPS hai tần số và anten có vành chống phản xạ.
Số liệu cả hai đợt đo đă được
xử lư bằng phần mềm GPSurvey và Bernese với mục
đích xác định chuyển dịch vỏ Trái đất
trong ITRF2000. Kết quả đă chỉ ra: điểm HUN1
(đại diện cho khu vực lưới) chuyển dịch
từ bắc xuống nam: 12,6 mm/năm ±0,6 mm/năm, từ tây sang đông: 33,9 mm/năm ± 0,4 mm/năm.
Vectơ chuyển dịch là bằng chứng hữu
ích mang tính định lượng phục vụ các nghiên cứu
địa động lực khu vực.
I. MỞ ĐẦU
Chuyển
dịch hiện đại vỏ Trái đất có thể
phân loại thành:
- Chuyển
dịch tương đối: được hiểu
là chuyển dịch được so sánh với một
điểm nào đó trong lưới được chọn
là điểm khởi đầu, trên cơ sở các cân nhắc
về đồ h́nh lưới và các thông số địa
chất. Phương án này đă được sử dụng
khi tính toán chuyển dịch tồn tại giữa hai cánh
đứt găy Sông Hồng, Sông Đà, Lai Châu - Điện
Biên trong thời gian qua [5, 7, 8].
- Chuyển
dịch tuyệt đối: là chuyển dịch
được biểu diễn trong hệ tọa độ
toàn cầu. Về nguyên lư, chuyển dịch này được
so với gốc tọa độ được chọn
tại tâm Trái đất. Cơ sở để xác định
chuyển dịch tuyệt đối là hệ quy chiếu,
tọa độ toàn cầu.
Yếu
tố quan trọng quyết định phương án xác
định chuyển dịch tuyệt đối khu vực
lưới Tam Đảo - Ba V́ là hệ tọa độ
và hiện trạng số liệu đo.
Về hệ
tọa độ, trên thế giới tồn tại nhiều
hệ toàn cầu khác nhau, song các ứng dụng GPS có độ
chính xác cao thường sử dụng Khung tọa độ
Trái đất quốc tế (International Terrestial Reference
Frame - ITRF).
Ngay từ
ngày đầu hoạt động (1994), Cơ quan GPS quốc
tế (International GPS Service - IGS) đă lấy ITRF là hệ
toạ độ chính thức cho các nghiên cứu của
ḿnh. Từ đó đến nay đă có ITRF.88, 89, 90, 91, 92,
93, 94, 96, 97, 2000 và gần đây nhất là ITRF.2005 được
định nghĩa [3,9].
IGS xác
định và công bố toạ độ của các trạm
đo IGS trong ITRF với sai số cỡ mm. Với sai số
cỡ này, cần phải tính tới các chuyển dịch
mang tính kiến tạo mảng hoặc các chuyển động
khác của vỏ Trái đất (ví dụ như mảng kiến
tạo Bắc Mỹ chuyển dịch với tốc độ
2,5 cm/năm). V́ lư do trên, toạ độ của các điểm
trong ITRF chỉ đúng với thời điểm nhất
định. Để có tọa độ tại thời
điểm bất kỳ, cần phải hiệu chỉnh
bằng các số liệu vận tốc.
V́ việc
xử lư số liệu sẽ liên quan tới thời điểm
chu kỳ đo 1996 và 2006, nên ITRF.2000 được lựa
chọn cho việc tính toán và đánh giá chuyển dịch.
Phải khai thác tọa độ các điểm IGS khu vực
lân cận trong ITRF.2000 liên quan tới thời điểm
đợt đo 1996 và đợt đo 2006. Từ đó,
ta xác định tọa độ điểm HUN1 tại
hai thời điểm đợt đo (1996 và 2006) và tính
toán chuyển dịch trong ITRF 2000.
Về số
liệu, điểm HUN1 thuộc lưới GPS Tam Đảo
- Ba V́ được thiết lập năm 1994 với mục
đích nghiên cứu chuyển động hiện đại
đới đứt găy Sông Hồng (H́nh 3 [8]). Năm 1996,
điểm HUN1 được đo liên tục 5 ca đo
24 giờ; năm 2006, được đo lặp 12 ca
đo 24 giờ theo một quy tŕnh chặt chẽ bằng
máy thu hai tần số và anten có vành chống phản xạ.
Khoảng thời gian giữa hai đợt đo xấp xỉ
10 năm. Đây thực sự là nguồn số liệu
quư để có thể xác định chuyển dịch của
điểm HUN1 trong ITRF, hay c̣n được gọi là chuyển
dịch tuyệt đối
đạt độ tin cậy cao.
Cũng
xin lưu ư, vận tốc chuyển dịch (tương
đối) giữa hai cánh đứt găy thường rất
nhỏ (xấp xỉ mm/năm). Trong khi đó, vận tốc
chuyển dịch tuyệt đối lớn hơn nhiều
lần (30-40 mm/năm); bởi vậy chuyển dịch tuyệt
đối của điểm HUN1 hoàn toàn đại diện
cho đặc điểm chuyển dịch khu vực
lưới GPS Tam Đảo - Ba V́ trong mô h́nh chuyển dịch
toàn cầu.
Để
xác định được chuyển dịch cần phải
tiến hành các công việc sau: 1) Xác định toạ
độ của điểm HUN1 tại thời điểm
đo 1996; 2) Xác định tọa độ của điểm
HUN1 tại thời điểm đo 2006; và 3) Tính toán chuyển
dịch và tốc độ chuyển dịch.
II. SỐ LIỆU
ĐO VÀ SỐ LIỆU IGS
1. Số liệu
đo của điểm HUN1
Năm
1996, số liệu của điểm HUN1 được
Viện Địa chất và chuyên gia Cộng hoà Liên bang
Đức cùng phối hợp thu thập. Sau khi kiểm
tra, đối chiếu nhật kư đo đă tập hợp
đầy đủ số liệu đo ở dạng
*.dat và dạng Rinex.
Bảng 1. Bảng kê số
liệu điểm HUN1 năm 1996
|
STT |
DOY |
Tuần GPS |
Tệp số liệu |
Ghi chú |
|
|
1 |
109 |
0849,4 |
HUN11091.dat |
Máy thu: Trimble
4000SSE Anten: Compact L1/L2 W/G Tần suất thu tín hiệu: 30
sec |
|
|
2 |
110 |
0849,5 |
HUN11101.dat |
|
|
|
3 |
111 |
0849,6 |
HUN11111.dat |
|
|
|
4 |
112 |
0850,0 |
HUN11121.dat |
|
|
|
5 |
113 |
0850,1 |
HUN11131.dat |
|
Ghi
chú: DOY (Day of year) là ngày trong năm, dữ liệu
thông dụng được sử dụng trong xử lư số
liệu GPS.
Năm 2006, điểm HUN1 được
đo liên tục 12 ca đo với thời lượng 24
giờ. Các ca đo được hoàn thành một cách suôn sẻ,
đúng kế hoạch.
Cả
hai đợt đo đều được tiến hành
với quy tŕnh chặt chẽ áp dụng cho các lưới
nghiên cứu địa động lực. Độ dài ca
đo là 24 giờ, bắt đầu lúc 0 giờ 5 phút giờ
GMT (7 giờ 5 phút giờ Hà Nội), kết thúc lúc 23 giờ
30 phút để trút số liệu, thay ắc quy cho ca
đo tiếp theo. Tần suất thu tín hiệu là 30 sec. Các
yếu tố này đều hợp chuẩn với các tệp
số liệu điểm IGS, đảm bảo điều
kiện thuận lợi cho việc xử lư số liệu
đạt độ chính xác cao. Trước và sau mỗi
ca đo, số liệu đều được kiểm
tra các thông số ghi tín hiệu, chuyển dạng Rinex và kiểm
tra chất lượng (QC) ngay tại thực địa.
Bảng
2. Bảng kê số liệu đo điểm HUN1 năm
2006
|
STT |
DOY |
Ngày GPS |
Tệp số liệu |
Ghi chú |
|
1 |
286 |
1396.4 |
HUN12861.dat |
Máy thu: Trimble
4000SSi Anten: Compact L1/L2
W/G Tần
suât thu tín hiệu: 30 giây |
|
2 |
287 |
1396.5 |
HUN12871.dat |
|
|
3 |
288 |
1396.6 |
HUN12881.dat |
|
|
4 |
289 |
1397.0 |
HUN12891.dat |
|
|
5 |
290 |
1397.1 |
HUN12901.dat |
|
|
6 |
291 |
1397.2 |
HUN12911.dat |
|
|
7 |
293 |
1397.4 |
HUN12931.dat |
|
|
8 |
294 |
1397.5 |
HUN12941.dat |
|
|
9 |
295 |
1397.6 |
HUN12951.dat |
|
|
10 |
296 |
1398.0 |
HUN12961.dat |
|
|
11 |
297 |
1398.1 |
HUN12971.dat |
|
|
12 |
298 |
1398.2 |
HUN12981.dat |
2. Số liệu
IGS
Số
liệu IGS gồm: số liệu GPS của các điểm
đo liên tục của IGS, tọa độ của các
điểm IGS trong ITRF.2000 liên quan tới các đợt
đo của điểm HUN1 tại chu kỳ 1996 và 2006, lịch
vệ tinh chính xác và các thông số hỗ trợ phần mềm.
Việc
khai thác số liệu đo của các điểm IGS phụ
thuộc vào:
a.
Yêu cầu độ chính xác của nhiệm vụ: Đối với
việc xác định chuyển dịch, rơ ràng rằng càng
thu thập được nhiều số liệu đo của
các điểm IGS càng tốt, từ đó có nhiều khả
năng lựa chọn trong xử lư số liệu. Tuy vậy,
cũng cần lưu ư tới khuyến cáo của các phần
mềm độ dài cạnh không nên vượt quá 2000 km,
v́ vậy việc chọn điểm IGS nên giới hạn
trong ṿng tṛn trên H́nh 1.
b.
Mật độ điểm: Các điểm đo liên tục
thuộc tổ chức IGS được phân bố toàn cầu
với mật độ khác nhau. Về cơ bản, các
vùng Bắc Mỹ và Tây Âu có mật độ điểm
IGS dày đặc hơn. Việt
c. Khả năng tiếp cận: Về nguyên tắc,
số liệu IGS được khai thác miễn phí. Tuy vậy,
khó khăn có thể gặp và v́ vậy không thể khai thác
được, do nhiều nguyên nhân. Về chủ quan có thể
do cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ thông
tin và Internet của chúng ta chưa thực sự thuận lợi
đối với kiểu khai thác số liệu này.
d. Dung lượng và chất lượng các
tệp số liệu: Thực tế cho thấy không phải
tệp số liệu nào cũng đảm bảo đủ
24 giờ đo; dựa trên chỉ số phần trăm (%),
có thể lựa chọn và ưu tiên các tệp có dung lượng
đủ lớn tại các điểm phù hợp.
e. Tọa độ trong ITRF: Không phải tất
cả các điểm IGS đều có tọa độ
trong tất cả các ITRF, bởi vậy đây cũng là yếu
tố để lựa chọn ITRF cho việc xử lư số
liệu, và ngược lại chỉ sử dụng
được các điểm có tọa độ trong ITRF
đă chọn (trong trường hợp của chúng ta là
ITRF.2000).
H́nh
1. Các điểm đo GPS liên tục ở vùng lân cận
điểm HUN1.
f. Thông tin về điểm đo minh bạch: Muốn sử dụng
được số liệu đo các điểm IGS, cần
thu thập và sử dụng các thông tin tổng hợp của
các điểm đo (Sitelog). Đây là tệp dữ liệu
dạng biên bản (nhật kư) ghi đầy đủ các
thông số liên quan tới điểm đo, gồm:
- Vị
trí mốc, loại dạng mốc.
-
Cơ quan quản lư, người phụ trách.
-
Máy thu, các thông số và các thay đổi về máy thu.
-
Anten, độ cao anten, các thay đổi về anten, v.v..
Trên
cơ sỏ các nguyên tắc và hiểu biết nêu trên, số
liệu IGS đă được khai thác đầy đủ
cho tất cả các ngày đo của cả hai đợt
đo 1996 và 2006.
III. KẾT QUẢ
XỬ LƯ VÀ TÍNH TOÁN CHUYỂN DỊCH
Việc
xử lư số liệu được tiến hành bằng
hai phần mềm GPSurvey 2.35 và Bernese 4.2. Đây là cơ hội
tránh các sai sót, sai lầm và cũng là dịp tốt để
so sánh, đánh giá khả năng của hai phần mềm
trên lưới có quy mô lớn (có cạnh dài hàng ngàn km).
Bảng 3. Kết quả
b́nh sai tọa độ chu kỳ 2006
(theo
GPSurvey 2.35)
Tóm tắt b́nh sai tọa
độ
Mạng lưới =
HUN06cx
Thời gian = 10:23:01 Thứ
năm 19/4/2007

Bằng
phần mềm GPSurvey 2.35, số liệu điểm HUN1 và các điểm
IGS được xử lư theo từng ca đo (ngày đo)
để nhận được các đường mốc
(baseline), sau đó sẽ b́nh sai toàn bộ đợt đo
để nhận được tọa độ điểm
HUN1 từ các điểm IGS. Kết quả b́nh sai tọa
độ đợt đo 2006 được tŕnh bày ở
Bảng 3.
Sau khi
chuẩn bị và chuyển đổi số liệu phù hợp
với phần mềm, tiến hành xử lư số liệu
bằng phần mềm Bernese theo thực đơn, kết
quả cuối cùng cũng là tọa độ b́nh sai của
điểm HUN1. Tọa độ b́nh sai đợt đo
2006, xác định bằng phần mềm Bernese 4.2,
được tŕnh bày ở Bảng 4.
Sai số xác định điểm HUN1
năm 2006 bằng phần mềm GPSurvey 2.35 lần lượt
là 4,3 mm, 3,6 mm và 18,7 mm theo chiều vĩ tuyến, kinh tuyến
và độ cao; sai số theo phần mềm Bernese thông báo
tương ứng là: 0,2 mm, 0,2 mm và 1,6 mm. Đây là kết
quả hết sức thuyết phục trên lưới có
quy mô lớn và chuyển dịch tuyệt đối thường
ở bậc cm. Cũng xin lưu ư, phần mềm Bernese
thường đưa ra sai số "quá chính xác", sai
số này phải được nhân với một hệ
số được xác định từ thông báo kết
quả b́nh sai.
Bảng
4. Kết quả b́nh sai tọa độ chu kỳ 2006

Số liệu năm 1996 cũng được
xử lư bằng hai phần mềm theo một quy tŕnh thống
nhất và đạt được độ chính xác
tương tự.
Sử dụng các kết quả này, việc
tính toán chuyển dịch được tiến hành như
sau:
- Từ tọa độ điểm HUN1
sau b́nh sai lần lượt là vĩ độ, kinh độ
và độ cao trên ellipsoid cùng sai số liên quan, tính độ
lệch tọa độ trên ellipsoid qua 2 chu kỳ đo;
- Từ độ lệch tọa độ
tính vectơ chuyển dịch, tính sai số vectơ chuyển
dịch từ kết quả b́nh sai tọa độ;
- Từ chuyển dịch và sai số chuyển
dịch hoàn toàn xác định được vận tốc
và sai số vận tốc theo khoảng thời gian giữa
hai chu kỳ đo.
Kết quả cuối cùng được
tŕnh bày ở Bảng 5, vectơ chuyển dịch được
biểu diễn ở H́nh 2. Từ Bảng 5 ta có thể thấy
là độ lệch tọa độ qua hai chu kỳ xử
lư bằng hai phần mềm có độ chính xác rất cao
cho dù quy mô lưới lớn, các cạnh có độ dài xấp
xỉ 2000 km.
Bảng 5. Tổng hợp độ lệch
tọa độ điểm HUN1 trong ITRF.2000
(Đơn vị: m)
|
Điểm |
Thông số |
GPSurvey 2.35 |
Bernese 4.2 |
Trung b́nh |
|||
|
Độ lệch |
Sai số |
Độ lệch |
Sai số |
Độ lệch |
Sai số |
||
|
HUN1 |
Vĩ độ |
-0,1308 |
0,0124 |
-0,1332 |
0,0023 |
-0,1320 |
0,0063 |
|
Kinh độ |
0,3650 |
0,0067 |
0,3476 |
0,0030 |
0,3563 |
0,0037 |
|
|
Độ cao |
-0,0568 |
0,0407 |
-0,0671 |
0,0167 |
-0,0619 |
0,0220 |
|
- Độ tin cậy của kết quả
tính toán được củng cố bởi sự trùng hợp
độ lệch tọa độ tính từ hai phần mềm
hết sức khả quan. Xét tương quan giá trị tuyệt
đối cùng sai số có thể cho rằng hai kết quả
này là một. Kết quả độ lệch cuối cùng
sẽ là giá trị trung b́nh của hai phương án.

H́nh 2. Sơ
đồ chuyển dịch điểm HUN1 (Đơn vị
tính: m).

H́nh
3. Sơ đồ các vectơ vận tốc khu vực Việt
Nam.
- Xét mối quan hệ giữa độ
lệch và sai số xác định chúng, có thể khẳng
định tồn tại chuyển dịch tại điểm
HUN1 (đại diện cho lưới Tam Đảo - Ba V́)
từ 1996 đến 2006. Vận tốc chuyển dịch
được xác định trong khoảng thời gian xấp
xỉ 10,5 năm với thành phần cụ thể như
sau:
+ Theo chiều
bắc xuống nam: 12,6 mm/năm với sai số: 0,6
mm/năm.
+ Theo chiều
tây sang đông: 33,9 mm/năm với sai số: 0,4
mm/năm.
+ Theo chiều
cao: hạ 5,9 mm/năm với sai số 2,2 mm/năm.
Kết quả này rất phù hợp với các tính toán của đề
án GEODYSSEA [2] và [1]. H́nh 3 tŕnh bày vectơ vận tốc
điểm HUN1 (theo số liệu 1996-2006), điểm
CAMP, NONN (được tính từ số liệu 1994-1998 của
dự án GEODYSSEA) điểm DON1 (theo số liệu 2002-2004
lưới GPS Lai Châu - Điện Biên). Các vectơ vận
tốc không chỉ phù hợp về hướng mà c̣n có
cùng bậc về độ lớn. Cùng với các kết quả [5, 7,
8] có thể cho rằng, ở miền Bắc Việt Nam
chuyển động nội mảng (chuyển dịch các
mảng nhỏ phân cách bởi các các đứt găy Sông Hồng,
Sông Đà, Lai Châu - Điện Biên, v.v.) là không đáng kể.
Xét trên quan điểm mô h́nh chuyển dịch toàn cầu,
toàn khu vực là một khối thống nhất có chuyển
dịch á vĩ tuyến từ tây sang đông. Kết luận
này một lần nữa được củng cố khi
so sánh với sơ đồ dịch chuyển các mảng
thạch quyển và các vectơ vận tốc xác định
từ số liệu GPS khu vực Đông Nam Á và toàn cảnh
trường ứng suất khu vực [2, 4].
IV. KẾT LUẬN
1. Số ca đo của điểm
HUN1 đủ lớn, độ dài ca đo đủ dài
(24 giờ), máy thu hai tần số cùng anten có vành chống
phản xạ cùng quy tŕnh đo chặt chẽ là yếu tố
quan trọng đảm bảo chất lượng số
liệu cả hai chu kỳ đo. Số liệu đo
đă được kiểm tra chất lượng
trước khi đưa vào xử lư, khoảng thời
gian giữa hai chu kỳ đủ dài (10 năm), đây là
tiền đề hết sức thuận lợi để
việc xác định chuyển dịch tuyệt đối
thành công.
2. Các vấn đề lư luận
cũng như thực tiễn đă được giải
quyết thấu đáo (thể hiện qua việc lựa
chọn phương án xử lư, khai thác các số liệu
đo của các điểm IGS, chuyển đổi lịch
vệ tinh chính xác, tọa độ của các điểm
trong ITRF tại thời điểm đo v.v.), trên cơ sở
đó mới có thể xử lư được số liệu
điểm HUN1 trong ITRF.
3. Số liệu của cả
hai đợt đo được xử lư theo một quy
tŕnh đồng nhất, đồng thời bằng hai phần
mềm.
Các điều nêu trên là cơ sở
vững chắc khẳng định sự chuyển dịch
cũng như vận tốc chuyển dịch điểm
HUN1 (đại diện cho khu vực lưới GPS Tam
Đảo - Ba V́) đă được xác định với
độ chính xác và tin cậy cao, góp phần làm sáng tỏ
bức tranh chuyển dịch tuyệt đối lănh thổ
nước ta trong mô h́nh chuyển dịch toàn cầu.
Đây cũng là dữ liệu đáng tham khảo cho các
nghiên cứu địa động lực và kiến tạo
mảng.
Lời cảm ơn: Công tŕnh này là kết quả của đề tài NCCB
do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ.
VĂN LIỆU
1. Duong Chi Cong, Tran Dinh To, 2007. Estimation
of ITRF 2000 velocity field across the Lai Chau - Dien Bien fault in Northwest
of Vietnam, 2002-2004. Intern. Symp. on Surveying and Mapping for Sust.
Devel.. Hà Nội.
2. http:/lareg.ensg.ign.fr/ITRF.
3. http:/www.geologie.ens.fr/
~vigny/geodyssea-e.html.
4. Nguyễn Trọng
Yêm, Guchenko O.I., Lê Minh Quốc, Mostrikov A., 1996. Trường ứng suất hiện đại
và cơ thức biến dạng vỏ Trái đất
Đông Nam Á. Địa chất
Tài nguyên, 2 : 8-13. Viện Địa chất. Nxb KH&KT, Hà Nội.
5. Trần Đ́nh Tô, Vy Quốc Hải, 2005. Xác định chuyển động hiện đại
đới đứt găy Lai Châu - Điện Biên từ số
liệu đo GPS (2002-2004). TC Các khoa học về TĐ,
1 : 6-13. Hà Nội.
6. Vy Quốc Hải, 2004.
So sánh kết quả xử lư số liệu GPS của
lưới địa động lực bằng phần
mềm GPSurvey 2.35 và Bernese 4.2. TC Các khoa học về
TĐ, 26/4 : 426-431. Hà Nội.
7. Vy Quốc Hải, Trần Đ́nh Tô, Dương Chí Công,
2005. Xác định chuyển dịch hiện
đại đới đứt găy Sông Đà và đới
đứt găy Sơn La - Bỉm Sơn bằng số liệu
GPS. TC các khoa học về TĐ, 4 : 306-311. Hà Nội.
8. Vy Quốc Hải (Chủ biên), 2008. Tiếp tục quan trắc và nâng cao độ chính xác
xác định chuyển dịch đới đứt găy
Sông Hồng bằng công nghệ GPS. Báo cáo tổng
kết đề tài cấp Viện KH&CN. Lưu trữ
Viện ĐC, Hà Nội.
9. Zuheir Altamimi, 2000. ITRF Status and Plans for
ITRF2000. IVS 2000 Gen. Meeting Proc..
http://ivscc.gsfc.nasa.gov/publications/gm2000/alta./altamimi.htm.