NGHIÊN CỨU CHI TIẾT CẤU TRÚC ĐỨT
GÃY LAI CHÂU - ĐIỆN BIÊN BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐO
SÂU TỪ-TELLUR
1LÊ HUY MINH, 2PHẠM
VĂN NGỌC, 2DANIÈLE BOYER,
1NGUYỄN NGỌC THỦY, 1LÊ TRƯỜNG
THANH, 1NGÔ VĂN QUÂN, 3G. MARQUIS
1Viện Vật lý Địa cầu,
A8, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội;
2Viện Vật lý
Địa cầu Paris, Pháp; 3Viện Vật lý
Địa cầu Strasbourg, Pháp
Tóm tắt: Bài báo trình bày kết quả
đo sâu từ-tellur vùng lòng chảo Điện Biên Phủ
nhằm nghiên cứu đặc trưng cấu trúc địa
điện của đới đứt gãy Lai Châu - Điện
Biên (LC-ĐB). Việc phân tích tensor trở kháng các điểm
quan sát cho thấy cấu trúc địa điện sâu ở
vùng lòng chảo Điện Biên khá phức tạp với
hướng đường phương cấu trúc Bắc-Nam
nhưng có sự biến đổi từ điểm này
sang điểm khác trong khoảng ±20o; góc xoắn và góc
trượt ở phần lớn các điểm cũng biến
đổi trong khoảng <±20o, tuy nhiên cũng có giá trị
~40o. Cấu trúc địa điện thu được
bằng phép phân tích 2D tuyến 2 cho thấy đứt gãy
LC-ĐB ở vùng lòng chảo Điện Biên là đứt
gãy sâu xuyên vỏ có hướng cắm gần như thẳng
đứng. Sự tồn tại của đới điện trở
suất thấp dưới 10 W.m từ độ sâu
khoảng 10 km đến độ sâu hơn 30 km dọc
theo đứt gãy thể hiện rằng đứt gãy
LC-ĐB là đứt gãy đang hoạt động mạnh,
có thể tồn tại các quá trình biến chất làm các
khoáng vật ngậm nước giải phóng nước và
bị nóng chảy từng phần do tồn tại vật
chất nóng từ dưới sâu đi lên dọc theo đứt
gãy. Những thông tin thu được trong bài báo cũng cho
thấy phương pháp đo sâu từ-tellur là phương
pháp rất hiệu quả trong việc nghiên cứu cấu
trúc sâu đới đứt gãy hoạt động.
I. MỞ
ĐẦU
Đới
đứt gãy Lai Châu - Điện Biên (LC-ĐB) là phần
tiếp tục ở phía bắc của các đới khâu
Bentong-Raub và Nan-Uttaradit (hoặc Uttaradit-LouangPhabang) ở bán
đảo Malaysia và Thái Lan*. Phần ở Việt Nam của
đới đứt gãy LC-ĐB dài khoảng 160 km, có
hướng thay đổi từ ĐĐB-TTN sang hướng
B-N, cắt qua các đá trầm tích và các đá biến chất
tuổi Proterozoi muộn, Paleozoi và Mesozoi, và các đá granit
Paleozoi và Trias muộn. Trong Kanozoi, đới đứt gãy
LC-ĐB đã trải qua hai pha hoạt động kiến
tạo, đặc trưng bởi cơ chế trượt
bằng phải và trượt bằng phải nghịch và
cơ chế trượt bằng ngang trái, trượt bằng
ngang trái thuận một cách tương ứng. Đới
đứt gãy kèm theo một số bồn trũng kéo tách hẹp,
trong đó bồn trũng lớn nhất ở vùng phía nam
đới đứt gãy chính là lòng chảo Điên Biên Phủ
[3, 7, 9, 10, 15]. Có những bằng chứng về hoạt
động hiện đại của đứt gãy
LC-ĐB. Đó là các trận động đất xảy
ra dọc theo đứt gãy và các vùng kế cận, và các biểu
hiện khác: động đất Điện Biên năm
1935, M.6,75; động đất Nà Pheo, ngày 16/6/1980, M.4,6;
động đất Lai Châu ngày 1/1/2001, M.4,2; động
đất Điện Biên ngày 19/2/2001, M.5,3; các dị
thường địa hóa ở các khu vực Lai Châu, Nà
Pheo, Pe Luông, Him Lam; nhiều nguồn nước nóng ở
Hua Pe, Pe Luông ... Trong khuôn khổ Đề tài độc lập
cấp Nhà nước KC08-10 “Nghiên cứu dự báo chi tiết
động đất vùng Tây Bắc” lần đầu
tiên đã tiến hành nghiên cứu cấu trúc sâu đới
đứt gãy LC-ĐB ở vùng lòng chảo Điện Biên
Phủ bằng phương pháp đo sâu từ-tellur, một
phương pháp đã được biết tới từ
lâu trên thế giới [1], nhằm tìm hiểu bức tranh
chi tiết về cấu trúc độ dẫn của đứt
gãy LC-ĐB ở khu vực này, trên cơ sở đó có thể
thu thập được những thông tin đầy đủ
hơn về đứt gãy.
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
* Một số tài liệu mới [Ueno, 1999; Metcalfe,
2005; v.v.] không xác nhận sự kéo dài liên tục của
đới khâu Bentong-Raub
và Nan-Uttaradit qua Louang Phabang – Lai Châu - Điện Biên
(TCĐC).
II.
KHẢO SÁT THỰC ĐỊA ĐO SÂU TỪ-TELLUR VÙNG LÒNG
CHẢO ĐIỆN BIÊN

Hình 1. Vị trí các điểm
đo sâu từ-tellur (các ngôi sao) vùng lòng chảo Điện
Biên.
Thiết bị dùng trong khảo
sát này là bộ máy thăm dò sâu từ-tellur Géo-IB-Ntrument của
Viện Vật lý Địa cầu
Bảng 1. Tọa
độ địa lý các điểm đo sâu từ-tellur
ở lòng chảo Điện Biên Phủ
|
TT |
Tên điểm đo |
Tọa độ |
Độ cao (m) |
|
|
Vĩ độ |
Kinh độ |
|||
|
1 |
D11
– tuyến 1 |
21o23’41,64” |
102o59’36,54” |
503 |
|
2 |
D13
– tuyến 1 |
21o23’28,8” |
103o00’11,1” |
499 |
|
3 |
D14
– tuyến 1 |
21o23’30,12” |
103o00’24,06” |
490 |
|
4 |
D15
– tuyến 1 |
21o23’55,14” |
102o59’12,06” |
510 |
|
5 |
D17
– tuyến 1 |
21o24’13,92” |
102o58’9,9” |
541 |
|
6 |
D21
– tuyến 2 |
21o18’30,3” |
103o00’8,58” |
500 |
|
7 |
D22
– tuyến 2 |
21o18’15,24” |
103o01’17,7” |
501 |
|
8 |
D23
– tuyến 2 |
21o18’13,38” |
103o00’46,38” |
498 |
|
9 |
D24
– tuyến 2 |
21o17’52,5” |
103o00’26,76” |
488 |
|
10 |
D25
– tuyến 2 |
21o18’23,34” |
103o01’32,82” |
501 |
|
11 |
D26
– tuyến 2 |
21o18’31,32” |
102o59’26,64” |
489 |
|
12 |
D27
– tuyến 2 |
21o18’33,96” |
102o58’52,26” |
493 |
|
|
|
|
|
|
III.
XỬ LÝ SỐ LIỆU VÀ TIẾN HÀNH PHÉP PHÂN TÍCH TENSOR TRỞ
KHÁNG
Để tiến hành phân tích tập hợp
các chuỗi thời gian của 4 thành phần trường
điện-từ đo được, chúng tôi tính toán các
hàm chuyển từ-tellur dùng phần mềm MT [11] và
phương pháp xử lý thống kê mạnh do Chave et al.
[2] đề xuất đối với các tần số từ
0,001 đến 1000 Hz. Chúng tôi cũng so sánh các kết quả
xử lý theo phương pháp của Chave et al. với
phương pháp xử lý cơ bản sử dụng trong
phần mềm MT; nói chung, các đường cong đo sâu
từ-tellur thu được từ cả hai phương
pháp phân tích đều tương đối đồng nhất.
Tập hợp các đường cong điện trở suất
biểu kiến rT thu
được tại 12 điểm đo được
trình bày trên Hình 2; đây là cơ sở để xây dựng
mặt cắt địa điện của các tuyến
nghiên cứu sẽ được trình bày ở phần
dưới.
Như đã biết, cho đến nay
trong phương pháp từ-tellur với các môi trường
có cấu trúc 1D hoặc 2D thì các phép phân tích cho kết quả
rất tin cậy; còn khi môi trường là 3D, hoặc là có
các bất đồng nhất 3D trong môi trường 1D hoặc
2D (khi đó chúng ta nói môi trường có đặc trưng
xoắn điện địa phương) thì việc phân
tích sẽ cho những kết quả kém tin cậy hơn.
Để tìm hiểu các đặc trưng bất đồng
nhất địa phương người ta thường
tiến hành phân tích tensor trở kháng theo phương pháp do
Groom và Bailey [5] đề xuất. Khi đó tensor trở
kháng quan sát được có dạng:
(1)
trong đó R là tensor quay, C là tensor xoắn
điện 2×2, và Z2D là tensor trở kháng khu vực
trong hệ tọa độ có một trục hướng
theo đường phương cấu trúc. tensor xoắn
điện C theo Groom và Bailey có thể viết dưới
dạng tích của các ma trận spin Pauli như sau:
C = gTSA (2)
trong đó g là một vô hướng
được gọi là “khuếch đại do vị
trí”, T, S và A là các nhân tử tensor được gọi lần
lượt là xoắn, trượt và bất đẳng
hướng một cách tương ứng. tensor xoắn T
và tensor S tạo nên phần xác định được của
ma trận xoắn. tensor xoắn quay trường điện
khu vực theo chiều kim đồng hồ một góc bằng
arctg(t), trong khi tensor trượt phát triển bất đẳng
hướng trên một trục là phân giác hệ trục
chính khu vực, quay một vectơ trên trục x theo chiều
kim đồng hồ và một vectơ trên trục y ngược
chiều kim đồng hồ một góc arctg(e). Đối
với giá trị e bằng 1 hoặc -1 (góc trượt bằng
45o hoặc -45o), trường điện bị
phân cực hoàn toàn, và thông tin về môi trường bên
dưới là hướng của trường điện
bị phân cực có thể không đúng là đường
phương khu vực hoặc hướng vuông góc với
đường phương khu vực. Khuếch đại
vị trí và tensor bất đẳng hướng A tạo
nên phần không xác định của ma trận xoắn, tạo
nên phần dịch chuyển tĩnh các đường cong
điện trở suất thăm dò từ-tellur.

Hình 2. Các
đường cong điện trở suất biểu kiến
thành phần EW (hình thoi rỗng) và thành phần B-N (hình tròn)
quan sát được trên các tuyến 1 và 2 vùng lòng chảo
Điện Biên.
Đưa khuếch đại
vị trí g, bất đẳng hướng s vào trở
kháng khu vực, tensor trở kháng đo được có dạng:
(3)
trong đó Zregional là
tensor trở kháng khu vực 2D đã gộp cả khuếch
đại vị trí và bất đẳng hướng (gAZ2D).
Groom và Bailey đã chỉ ra rằng khi tensor trở kháng
đo được tuân theo mô hình phân chia, tensor được
miêu tả một cách duy nhất bởi 7 tham số trong
tích (3). Bảy tham số đó là: xoắn điện t,
trượt e, đường phương q và 4 tham số chứa trong 2 trở kháng phức khu vực
A và B (Zxy và Zyx). Các tham số này tìm
được bằng cách làm hợp 7 tham số mô hình phân
chia với 8 tài liệu của tensor trở kháng đo
được, và các tham số góc đường
phương, góc trượt và góc xoắn sẽ cho đánh
giá sơ bộ về mức độ đồng nhất
của cấu trúc địa điện các tuyến nghiên
cứu.
Cực đại phân bố
thống kê góc đường phương, góc trượt
và góc xoắn tại 12 điểm đo sâu từ-tellur vùng
lòng chảo Điện Biên được trình bày trong Bảng
2. Hình 3 là ví dụ minh họa kết quả xác định
phân bố thống kê góc đường phương, góc xoắn
và góc trượt tại điểm D21 trên tuyến 2.
Bảng 2. Cực
đại phân bố thống kê góc đường
phương, góc trượt và góc xoắn
tại các điểm đo
sâu từ-tellur vùng lòng chảo Điện Biên
|
Tên điểm đo |
Góc đường
phương (o) |
Góc trượt (o) |
Góc xoắn (o) |
|
D11 |
40 |
40 |
0 |
|
D13 |
-35 |
40 |
25 |
|
D14 |
0 |
-40 |
-15 |
|
D15 |
0 |
40 |
-20 |
|
D17 |
10 |
-25 |
30 |
|
D21 |
0 |
10 |
15 |
|
D22 |
15 |
5 |
0 |
|
D23 |
20 |
-15 |
0 |
|
D24 |
15 |
10 |
5 |
|
D25 |
10 |
-35 |
-25 |
|
D26 |
0 |
0 |
35 |
|
D27 |
-15 |
0 |
35 |

Hình 3. Phân bố thống
kê góc đường phương, góc trượt và góc xoắn
tại điểm D21
Bảng 2 cho chúng ta thấy là
tại các điểm D14, D15, D21, D26, góc đường
phương có cực đại thống kê ở 0o,
hướng cấu trúc là hướng bắc-nam; tại
các điểm D17, D22, D23, D24, D25 và D27 hướng cấu
trúc xác định được tập trung ở khoảng
±20o; tại hai điểm còn lại D11 và D13 góc
đường phương góc đường
phương có phân bố cực đại ở 40o
và -40o. Tại các điểm D21, D22, D24, D26, D27 góc
trượt có phân bố cực đại ở 0-10o.
Tại các điểm D11, D13, D14 và D25 góc trượt đạt
tới 35-40o. Góc xoắn tại các điểm D11,
D14, D21, D22, D23 và D24 tương đối nhỏ, phân bố
thống kê cực đại ở khoảng 0-15o;
tại các điểm D13, D17, D25, D26 và D27 có góc xoắn lớn
hơn phân bố thông kê cực đại ở 25-30o.
Những phân tích góc đường phương, góc trượt
và góc xoắn đã nêu cho thấy cấu trúc địa
điện ở vùng lòng chảo không phải là cấu trúc
1D hoặc 2D đơn giản; điều này chắc chắn
phản ánh hoạt động địa chất phức
tạp đã diễn ra trong khu vực, các bất đồng
nhất 3D có thể có ảnh hưởng nhất định
tới các kết quả đo sâu từ-tellur đã tiến
hành. Tuy nhiên các bất đồng nhất này chỉ ở
một số điểm đo, số liệu từ-tellur
vì thế có thể cho phép chúng ta thu được những
thông tin có tính khu vực của đứt gãy LC-ĐB.
IV.
BIỂU DIỄN GIẢ MẶT CẮT ĐIỆN TRỞ
SUẤT BIỂU KIẾN
Các đường cong điện
trở suất biểu kiến ở Hình 2 có thể
được biểu diễn dưới dạng giả
mặt cắt biểu kiến trên các Hình 5 và 6. Trục tung
là trục tần số ở tỷ lệ logarit, trục
hoành là trục khoảng cách biểu diễn vị trí các
điểm trên tuyến, giá trị điện trở suất
biểu kiến được biểu thị ở tỷ
lệ logarit. Phần tần số thấp ứng với
các dao động chu kỳ dài, có khả năng thâm nhập
vào sâu hơn so với phần tần số cao, như vậy
giả mặt cắt biểu kiến cho chúng ta ý niệm về
cấu trúc địa điện của môi trường
bên dưới [16-18].
|
a) |
b) |
Hình 5. Giả
mặt cắt điện trở suất biểu kiến
tuyến 1: a) thành phần B-N, b) thành phần EW. Điện
trở suất biểu kiến biểu diễn ở tỷ
lệ logarit, khoảng cách giữa các đường đẳng
trị là 0,5.
Theo những dự đoán
địa chất, đứt gãy LC-ĐB chạy qua lòng chảo
Điện Biên nằm ở khu vực giữa lòng chảo.
Như đã nêu bên trên, tuyến 1 không cắt qua toàn bộ
lòng chảo, nên không cho chúng ta đầy đủ ý niệm
về mặt cắt địa điện ngang qua toàn bộ
lòng chảo. Tuy vậy, trên giả mặt cắt điện
trở suất biểu kiến tuyến 1 (Hình 5) ở cả
hai thành phần B-N và Đ-T chúng ta đều quan sát thấy
sự giảm điện trở suất rõ rệt ở
khoảng giữa các điểm D11 và D13, như vậy có
thể nói đứt gãy LC-ĐB phải nằm ở vị
trí của các điểm này. Điều này cũng dễ
hiểu vì ở vùng đứt gãy, đất đá bị
phá huỷ nên điện trở suất sẽ phải giảm
so với đất đá xung quanh. Trong đới đứt
gãy hoạt động sự có mặt của nước
nóng từ dưới sâu sẽ còn làm suy giảm điện
trở suất nhiều hơn nữa. Như vậy, dấu
hiệu suy giảm của điện trở suất chính
là dấu hiệu để nhận biết vị trí của
đới đứt gãy trong phương pháp đo sâu từ-tellur,
và điều này có thể nhận biết được
ngay trên giả mặt cắt điện trở suất biểu
kiến.
|
a) |
b) |
Hình 6. Giả
mặt cắt điện trở suất biểu kiến tuyến
2: a) thành phần B-N, b) thành phần Đ-T
Trên giả mặt cắt
điện trở suất biểu kiến tuyến 2 (Hình
6), ở khoảng giữa vùng lòng chảo (điểm D24)
chúng ta cũng thấy sự giảm của điện trở
suất so với ở vị trí các điểm D21 và D23, nhất
là ở phần tần số thấp, như vậy chắc
chắn đứt gãy LC-ĐB sẽ phải ở gần
điểm D24. Tuy nhiên, ở điểm D26 và D27 chúng ta lại
quan sát thấy sự suy giảm của điện trở
suất ở vị trí điểm D21, và như vậy
đây có thể là sự biểu hiện của đứt
gãy khác, đó là đứt gãy Điện Biên - Pắc
Nưa theo kết quả phân tích tài liệu địa chất.
Do tuyến 2 cắt ngang qua toàn bộ lòng chảo, có thể
nhìn thấy hình ảnh của toàn bộ cấu trúc đới
đứt gãy.
V.
PHÂN TÍCH 2-D SỐ LIỆU ĐO SÂU TỪ-TELLUR VÙNG LÒNG CHẢO
ĐIỆN BIÊN
Phép phân tích 2D số liệu từ-tellur
nghịch đảo đồng thời tất cả các
đường cong điện trở suất biểu kiến
thu được trên tuyến, như vậy mô hình thu
được trong quá trình nghịch đảo đã tính tới
cả sự biến đổi của điện trở
suất theo chiều sâu phụ thuộc tần số quan
sát và cả sự biến đổi của điện trở
suất theo phương ngang. Như vậy sự biến
đổi của điện trở suất quan sát
được tại mỗi điểm quan sát trong phép
nghịch đảo phản ánh ảnh hưởng của
các điểm xung quanh, vì thế bức tranh cấu trúc
địa điện thu được trên tuyến hy vọng
sẽ gần với cấu trúc địa điện
trong thực tế. Phép phân tích 2D mà chúng tôi sử dụng ở
đây là phương pháp nghịch đảo giảm
dư nhanh (Rapid relaxation inverse - RRI) của Smith và Booker [13]
trong phần mềm
Mặt cắt
điện trở suất ở Hình 8 được xây dựng
với tỷ lệ giữa trục tung (độ sâu) và
trục hoành (khoảng cách) là 1:10 với mục đích có
thể thấy rõ cấu trúc địa điện trên tuyến.
Mặt cắt điện trở suất ở Hình 8 cho thấy
là phần trên của mặt cắt có điện trở
suất khá cao, từ hàng trăm W.m ở vùng đầu tuyến
đến hàng ngàn W.m ở phần cuối tuyến, ứng với lớp
vỏ bên trên và lớp vỏ giữa. Tồn tại vùng
điện trở suất thấp dưới 10 W.m dưới điểm
D24 và D21 thấp hơn hẳn so với các điểm xung
quanh. Vị trí đường đẳng trị 10 W.m dưới điểm
D24 ở độ sâu khoảng 9 km và dưới điểm
D21 khoảng 10 km, vùng giới hạn ở bên trong
đường đẳng trị 10 W.m gần như thẳng
đứng ở phía dưới giữa điểm D21 và
D26, phần phía dưới các điểm D24 và D2 nghiêng thoải
hơn làm cho vùng điện trở suất thấp dưới
10 W.m mở
rộng ở phía dưới sâu. Vùng điện trở suất
thấp này ứng với vùng đứt gãy LC-ĐB vì ở
vị trí đứt gãy đất đá bị phá hủy,
nước có chứa các khoáng chất trong vỏ có

Hình 7. Độ
lệch bình phương trung bình giữa thành phần EW quan
sát và tính toán từ mô hình 2D tuyến 2.
thể thâm nhập
vào đới đứt gãy làm cho điện trở suất
của đới đứt gãy nhỏ hơn so với
điện trở suất của đá vây quanh. Hình thái
phát triển của đới điện trở suất
thấp dưới 10 W.m như ở Hình 8 cho chúng ta thấy
đứt gãy LC-ĐB là đứt gãy xuyên vỏ, với
hướng cắm gần như thẳng đứng. Ở
dưới điểm D27 cũng tồn tại vùng có
điện trở suất thấp dưới 10 W.m ở độ sâu
8-16 km, có khả năng vùng này liên quan tới một đứt
gãy nhỏ hơn là đứt gãy Điện Biên - Pắc
Nưa ở rìa phía tây của lòng chảo Điện Biên,
tuy nhiên do việc đo đạc chưa cắt qua hoàn
toàn khu vực đứt gãy này nên chúng ta không thu được
hình ảnh đầy đủ của nó ở mặt cắt
điện trở suất ở Hình 10.
Chúng ta biết
rằng độ dẫn trong vỏ Trái đất chủ
yếu mang bản chất của dẫn điện điện
phân, tức là liên quan chặt chẽ tới sự tồn
tại của chất lỏng [12]. Sự tồn tại của
vùng điện trở suất thấp ở đới
đứt gãy LC-ĐB có thể liên quan tới hai quá trình: sự
luân chuyển của nước tự do được giải
phóng trong quá trình biến chất của các khoáng vật ngậm
nước ở vùng đứt gãy và sự nóng chảy cục
bộ ở độ sâu nhất định của đứt
gãy [4, 5, 16, 17] do tác động của nhiệt giải
phóng trong quá trình biến chất và
dòng nhiệt từ dưới sâu đi lên dọc theo
đứt gãy. Các hiện tượng này có những biểu
hiện trên bề mặt: sự tồn tại của nhiều
điểm nước nóng, các dị

Hình 8. Mặt
cắt địa điện theo kết quả phân tích 2D
tài liệu từ-tellur tuyến 2.
thường địa
hóa... ở vùng lòng chảo như đã nêu và sự tồn
tại của bazan Neogen muộn [8] ở vùng đồi
Độc Lập và lỗ khoan LK-3D ở giữa lòng chảo.
Sự tồn tại của bazan minh chứng hoạt động
tách giãn của lòng chảo Điện Biên trong pha dịch
chuyển trượt trái gần đây của đới
đứt gãy LC-ĐB. Hình thái mở rộng về phía
dưới của vùng điện trở suất thấp
minh chứng mối liên hệ chặt chẽ của các quá
trình địa chất ở dưới sâu trong manti và các
phần dưới vỏ Trái đất ở vùng đứt
gãy LC-ĐB.

Hình 9. Mặt
cắt điện trở suất tuyến 2 thành phần
EW tính lại từ mô hình 2D
Theo các số
liệu của Viện Vật lý Địa cầu, các chấn
tiêu động đất tại đới đứt gãy
Lai Châu - Điện Biên phân bố chủ yếu ở
độ sâu 1-20 km, như vậy độ sâu 20 km là ranh
giới sinh chấn ở đới đứt gãy này. Theo
Touret và Marquis [14], nếu lớp vỏ bên dưới ở
độ sâu 20-30 km có điện trở suất nhỏ
hơn khoảng 30 W.m thì lớp vỏ này phải ở trạng thái chảy
dẻo. Do đó dựa trên số liệu điện trở
suất thu được từ số liệu từ-tellur
và số liệu động đất có thể khẳng
định rằng ở độ sâu 20-30 km bên dưới
đới đứt gãy Lai Châu - Điện Biên vật chất
phải ở trạng thái chảy dẻo. Phía dưới
các điểm D22 và D25, độ sâu của đường
đẳng trị 10 W.m sâu gần 30 km, như vậy có thể
sự chảy dẻo có khả năng chỉ có tính cục
bộ dọc theo đứt gãy; điều này có thể
được khẳng định nếu có những
điểm đo sâu từ-tellur khác ngoài vùng lòng chảo
Điện Biên.
VI. KẾT
LUẬN
- Kết quả phân tích tensor
trở kháng các điểm đo sâu từ-tellur vùng lòng chảo
Điện Biên cho thấy đặc trưng cấu trúc
địa điện của môi trường địa
điện gần đứt gãy LC-ĐB là môi trường
2D, tuy nhiên ở một số điểm nhất định
cũng bị phức tạp hóa bởi các hoạt động
địa chất.
- Đứt gãy LC-ĐB là
đứt gãy có độ xuyên sâu lớn cắt vào vỏ
Trái đất, có góc cắm gần như thẳng đứng
ở vùng lòng chảo Điện Biên. Sự tồn tại
của đới điện trở suất thấp dọc
theo đứt gãy từ khoảng độ sâu 10-30 km hoặc
hơn cũng khẳng định đứt gãy LC-ĐB là
đứt gãy đang hoạt động, có sự tồn
tại của chất lỏng tự do luân chuyển dọc
theo đứt gãy, được giải phóng trong các quá
trình biến chất thải nước của các khoáng vật
ngậm nước hoặc chất lỏng từ dưới
sâu đi lên dọc theo đứt gãy. Kết quả thu
được cho thấy phương pháp từ-tellur rất
hữu hiệu trong việc nghiên cứu cấu trúc sâu các
đới đứt gãy hoạt động.
- Trong đới đứt
gãy LC-ĐB ở độ sâu 20-30 km, và có thể phần
manti sâu hơn, ở trạng thái chảy dẻo. Sự chảy
dẻo chắc chắn liên quan tới các quá trình biến chất
giải phóng nhiệt và nước dọc theo đứt
gãy, cũng như nguồn nhiệt từ dưới sâu
đi lên dọc theo đứt gãy.
VĂN
LIỆU
1. Cagniard L., 1953. Basic theory of the magnetotelluric method of
geophysi-cal prospecting. Geophysics,
18 : 605-635.
2. Chave A.D., D.J.
Thomson, M.A. Ander, 1987. On the robust estimation
of power spectra, coherences and transfer functionns. J. Geophys. Res., 92 : 633-648.
3. Chi Cong Duong,
H.-S. Yun, J.-M. Cho, 2005.
GPS measurements of hori-zontal deformation across the Lai Chau - Dien Bien (
4. Đoàn Văn
Tuyến và nnk., 1999.
Đặc điểm cấu trúc sâu đới Sông Hồng
trên khu vực tây bắc vùng trũng Hà Nội theo kết quả
phân tích tài liệu từ-tellur, TC Các khoa học về
TĐ, 21/1 : 31-35.
5. Đoàn Văn
Tuyến, Đinh Văn Toàn, Nguyễn Trọng Yêm, 2001. Đặc điểm cấu trúc địa
động lực đới đứt gãy Sông Hồng
trên cơ sở tài liệu từ-telua, Tạp chí Địa
chất, A/267 : 21-28. Hà Nội.
6.
Geotools Corporation, 1997:
7. Groom R.W., R.C.
Bailey, 1989. Decomposition of
magnetotelluric impe-dance tensors in the presence of local three-dimensional
galvanic distortion, J. Geophys. Res., 94 : 1913-1925.
8. Koszowska E., A. Wolska, W. Zuchiewics, Nguyen Quoc
Cuong, Z. Pecskay, 2007. Crustal
contamination of Late Neogene basalts in
9. Lacassin R. et al.,
2001. Tertiary diachronic extension
and deformation of western
10. Nguyễn
Văn Hùng, Hoàng Quang Vinh, 2001.
Các đặc trưng chuyển động của đứt
gãy Lai Châu - Điện Biên trong Kainozoi, TC Địa chất,
B/17-18 : 65-77.
11. Quomarudin H., 1994. Propriétés électriques et structures de la cruôte en
France (Programmes Ecors, GPF) d’après les résultats de sondage
magnéto-tellurique. Thèse, Université
Paris 7.
12. Shalivahan Bimalendu, B. Bhattacharya, 2002. Implications of new results about Moho from
magnetotelluric studies, Current Science,
83/10 : 1259-1264.
13. Smith J.T., J.R.
Booker, 1991. Rapid inversion of two-
and three-
dimensional
magnetotelluric data. J. Geophys. Res.,
96 : 3905-3922.
14. Touret J.L., G. Marquis, 1994. Fluides profondes et
conductivité électri-que de la croûte continentale inférieure, C.R. Acad. Sci., 318 : 1469-1482. Paris.
15. Trần Văn
Thắng và nnk., 2002. Các
đới đứt gãy tân kiến tạo khu vực
Mường Tè và tác động của chúng tới các công
trình thuỷ điện Lai Châu trên sông Đà. TC Các khoa học
về TĐ, 24/4 : 311-321. Hà Nội.
16. Van Ngoc Pham, D.
Boyer, P. Therme, X.C. Yuan, L. Li and G.Y. Jin, 1986. Partial melting zones in the crust in southern
17. Van Ngoc Pham, D.
Boyer, Nguyen Van Giang, Nguyen Thi Kim Thoa, 1995. Propriétés électriques et structure profonde de la zone
de faille du Fleuve Rouge au Nord Vietnam d’après les résultats de sondage
magnéto-tellurique, C.R. Acad. Sci. Paris, 320/ IIa : 181-187.
18. Van Ngoc Pham et al., 2000. Electrical conductivity and crustal struc-ture beneath the central
Hellenides around the Gulf of Corinth (