ĐỀ XUẤT MẶT CẮT THAM KHẢO BỔ TRỢ CHO HỆ TẦNG SI PHAI Ở VÙNG ĐỒNG VĂN - MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG

TẠ HÒA PHƯƠNG1, NGUYỄN ĐỨC PHONG2, NGUYỄN VĂN VƯỢNG1

1 Trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
2 Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Hệ tầng Si Phai tại mặt cắt chuẩn chọn (lectostratotyp) lộ không đầy đủ do có quan hệ kiến tạo với hệ tầng Tốc Tát nằm trên. Phần cao nhất của hệ tầng Si Phai đã được phát hiện tại mặt cắt Mã Pì Lèn, bao gồm đá vôi xen vôi-silic, silic-vôi màu xám, chứa hóa thạch Vỏ nón (Nowakia sp.) và Răng nón (Polygnathus sp., Palmatolepis hassi, Pa. triangularis, Ancyrodella nodosa). Những lớp đá vôi thuộc phần trên cùng của hệ tầng Si Phai chuyển tiếp dần sang đá vôi dạng dải của hệ tầng Tốc Tát. Tài liệu cổ sinh và cấu trúc mới cho phép định tuổi lại cho hệ tầng Si Phai: từ Emsi đến Famen (D1em-D3fm). Mặt cắt Mã Pì Lèn trong vùng Đồng Văn - Mèo Vạc được đề xuất làm mặt cắt tham khảo bổ trợ (hypostratotyp) cho hệ tầng Si Phai.


I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hệ tầng Si Phai do Đặng Trần Huyên [4] xác lập dưới tên gọi ban đầu là điệp Si Phai (D1-2 sp). Khi xác lập phân vị địa tầng mới, tác giả đã không chỉ định mặt cắt chuẩn cho hệ tầng, nhưng căn cứ vào bài báo của ông trước đó [3] có thể thấy ông đã nghiên cứu chủ yếu mặt cắt Đồng Văn - Má Lủ (mà nhiều người quen gọi là mặt cắt Đồng Văn hay mặt cắt Đồng Văn - sông Nho Quế). Hệ tầng Si Phai thuộc phần trên của mặt cắt này, đoạn qua đèo Si Phai. Do vậy chúng tôi chọn đoạn mặt cắt đó làm mặt cắt chuẩn chọn (lectostratotyp) cho hệ tầng này.

Khối lượng ứng với hệ tầng Si Phai trước đây từng được xếp vào “série” Mã Pì Lèn [2] và định tuổi là Gothlandi. Thực ra “série” Mã Pì Lèn của J. Deprat bao gồm khoảng địa tầng nằm trên “série” Mia Lé ở mặt cắt Đồng Văn, nay được xếp vào các hệ tầng Si Phai, Tốc Tát, Lũng Nậm và Bắc Sơn.

E. Vasilevskaja (trong [5]) mô tả khối lượng địa tầng ứng với hệ tầng Si Phai vào phân vị Eifel-Givet. Hoàng Xuân Tình [6], Tạ Hòa Phương [8] coi khối lượng địa tầng kể trên thuộc điệp Nà Quản. Theo Tống Duy Thanh và nnk. [14], khối lượng địa tầng kể trên bằng hai hệ tầng Nà Quản và Hạ Lang gộp lại. Tống Duy Thanh, Nguyễn Đức Khoa (trong [17]) lập loạt Bản Páp, gồm các hệ tầng Nà Quản, Hạ Lang, Si Phai, Tràng Kênh, đá vôi Xóm Máy và “hệ tầng” Bản Páp. Trong Tống Duy Thanh và nnk. [16], hệ tầng Si Phai được coi là đồng nghĩa của hệ tầng Bản Páp.

Tạ Hòa Phương [9, 10] đã giữ tên gọi hệ tầng Si Phai với nội dung như đề xuất của Đặng Trần Huyên [4]: gồm các đá vôi, vôi silic, silic vôi và đá phiến silic nằm trên hệ tầng Mia Lé và nằm dưới đá vôi dạng dải của hệ tầng Tốc Tát.

Tại mặt cắt chuẩn của hệ tầng Si Phai có mặt một tập đá vôi, vôi sét dày khoảng 40 m, lộ gần bể nước bản Si Phai, có chứa chủ yếu các hóa thạch Vỏ nón (Tentaculita) và Răng nón (Conodonta) có tuổi từ Givet đến Frasni. Tập này từng được xếp vào hệ tầng Tốc Tát [8]. Về sau, Tạ Hòa Phương [9, 10] đã coi chúng là phần trên của hệ tầng Si Phai, với quan hệ không rõ ràng, hoặc quan hệ kiến tạo, với hệ tầng Tốc Tát nằm trên. Nếu đúng là quan hệ kiến tạo thì có nghĩa phần cao nhất của hệ tầng Si Phai vắng mặt trong mặt cắt chuẩn này. Vì vậy cần phải tìm trong khu vực một mặt cắt tham khảo bổ trợ (hypostratotyp), nhằm mở rộng sự hiểu biết về phần cao nhất của hệ tầng Si Phai và ranh giới của nó với hệ tầng Tốc Tát.

Gần đây, chúng tôi lại có dịp đến vùng Đồng Văn - Mèo Vạc và bước đầu nghiên cứu mặt cắt Mã Pì Lèn. Tại đây, chúng tôi đã phát hiện những trầm tích thuộc phần trên cùng của hệ tầng Si Phai, có quan hệ chuyển tiếp rõ ràng lên tầng đá vôi sọc dải của hệ tầng Tốc Tát. Chúng tôi cho rằng, mặt cắt Mã Pì Lèn là mặt cắt bổ sung đầy đủ cho mặt cắt chuẩn của hệ tầng Si Phai trong vùng Đồng Văn - Mèo Vạc, đáp ứng tiêu chuẩn của một mặt cắt tham khảo bổ trợ của hệ tầng..

II. MẶT CẮT MÃ PÌ LÈN

Mặt cắt Mã Pì Lèn được đo vẽ theo Quốc lộ 4C từ Mèo Vạc về Đồng Văn, đoạn từ Km 8 đến Km 11. Tại khoảng Km 8 có biểu hiện của một đứt gẫy, ở cánh nam (phía Mèo Vạc) lộ ra các đá vôi màu xám sáng của hệ tầng Bắc Sơn (C-P bs), cánh bắc (phía Đồng Văn) lộ ra tập đá vôi, silic-vôi của hệ tầng Si Phai. Đá của hệ tầng trong mặt cắt bị uốn nếp phức tạp: có mặt các nếp uốn đối xứng, bất đối xứng, đảo, thậm chí có cả các vi uốn nếp (Hình 1, 2).


 

Hình 1, 2. Đá của hệ tầng Si Phai bị uốn nếp phức tạp; vết lộ ĐV.46 (1), ĐV.48 (2)          (Ảnh Tạ Hòa Phương).

 

Hình 3, 4. Phần chuyển tiếp giữa trầm tích carbonat màu xám, phân lớp vừa và mỏng của hệ tầng Si Phai và đá vôi dạng dải của hệ tầng Tốc Tát. Có thể thấy các dải đá vôi đang hình thành, ngày một nhiều hơn; vết lộ ĐV.64              (Ảnh Tạ Hòa Phương).


Trình tự địa tầng từ dưới lên như sau:


- Tập 1: Đá vôi màu xám, xám sẫm, hạt mịn, xen các lớp đá phiến silic mỏng màu xám, dòn; dày 60 m; chứa hoá thạch Vỏ nón Nowakia sp. indet..

- Tập 2: Đá vôi, vôi sét màu xám, phân lớp trung bình và mỏng, xen ít lớp silic vôi màu đen, dày 40 m. Ở phần trên cùng của tập xuất hiện những dải đá vôi sáng màu, ngày càng nhiều hơn (Hình 3, 4). Đá của tập uốn nếp phức tạp, trong đó có cả những nếp uốn đảo. Phần trên của tập có thế nằm đảo. Đá vôi và vôi sét chứa hóa thạch Răng nón: Polygnathus sp. (ĐV.64/1, ĐV.64/2), Palmatolepis hassi, Polygnathus sp. (ĐV.64/5), Palmatolepis sp. (ĐV.64/7),  Palmatolepis hassi, Ancyrodella nodosa (ĐV.64/8), Palmatolepis triangularis (ĐV.64/12, ĐV64/13).

- Tập 3: Đá vôi dạng dải và phân lớp mỏng nhiều màu, gồm các dải hoặc lớp mỏng đá vôi, sét vôi hoặc sét silic (dày 0,5-30 cm, thường 1-3 cm) xen kẽ, dày >200 m. Các dải đá vôi hạt mịn thường có màu xám, xám lục, phớt hồng, các dải sét vôi hoặc sét silic màu nâu đỏ, xám lục, xám hồng v.v.. Trong đá vôi của tập đã phát hiện được các hóa thạch Răng nón: Palmatolepis glabra, Pa. pectinata, Polygnathus sp. (ĐV.64/19).  Tập 3 phân bố ở đoạn đỉnh đèo Mã Pì Lèn (Hình 5), có ranh giới kiến tạo với đá vôi màu xám sáng, phân lớp dày của hệ tầng Bắc Sơn (C-P bs).


Hình 5. Quan hệ chuyển tiếp  của hệ tầng Si Phai và hệ tầng Tốc Tát. Đá vôi sọc dải
hệ tầng Tốc Tát  lộ ra tại đỉnh đèo Mã Pì Lèn
(Ảnh Tạ Hòa Phương).


III. HỆ TẦNG SI PHAI (D1-D3 sp)

- Điệp Si Phai: Đặng Trần Huyên 1979; Tống Duy Thanh 1979 (tầng Chi Phai, D1-D2), Nguyễn Hữu Hùng và nnk. 1991 (D1-D2); Tống Duy Thanh, Nguyễn Đức Khoa 2000 (hệ tầng, D1-D2), Tạ Hoà Phương 2000, 2002 (hệ tầng, D1-D3), Nguyễn Hữu Hùng 2007 (hệ tầng, D1-D2).

- Série de Ma Pi Leun (part.): Deprat 1915 (Gothlandien).

- Calcaires eiféliens: Bourret 1922; Tống Duy Thanh 1967.

- Các bậc Eifel-Givet (part.): Vasilevskaia (trong Đovjikov và nnk. 1965).

- Điệp Nà Quản : Hoàng Xuân Tình và nnk. 1976 (Eifel-Givet?), Tong Duy Thanh 1979; Tống Duy Thanh và nnk. 1986, 1988 (D1-D2), Tạ Hòa Phương 1994.

- Hệ tầng Bản Páp: Tống Duy Thanh và nnk. 2005 (D1-D3).

Mặt cắt chuẩn chọn (Lectostratotyp): Mặt cắt Đồng Văn - sông Nho Quế, đoạn gần đèo Si Phai, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang; x = 23016', y = 105022'. Mặt cắt tham khảo bổ sung (Hypostratotyp): Mặt cắt Mã Pì Lèn, mô tả ở bên trên.

Theo mô tả ban đầu của Đặng Trần Huyên [3], hệ tầng gồm các đá vôi, vôi silic, silic vôi, đá phiến silic nằm trên hệ tầng Mia Lé và dưới “tầng đá vôi vân đỏ dạng dải” của hệ tầng Tốc Tát. Hệ tầng có khối lượng gần tương đương với hệ tầng Nà Quản ở Cao Bằng, nhưng phân biệt với hệ tầng Nà Quản bởi các trầm tích của hệ tầng được hình thành trong điều kiện biển sâu hơn, chứa phong phú hoá thạch biển khơi Vỏ nón và Răng nón, ứng với khoảng tuổi Emsi-Givet.

Tạ Hoà Phương [9, 10] đã có những nghiên cứu bổ sung về địa tầng Devon ở mặt cắt Đồng Văn. Trong các bài báo đó, hệ tầng Si Phai có trình tự địa tầng như sau (từ dưới lên trên):

- Tập 1: Đá vôi màu đen xen sét vôi, thấu kính và ổ silic chứa hoá thạch Vỏ nón Nowakia acuaria, N. zlichovensis, N. barrandei, N. praecursor và Răng nón thuộc đới Polygnathus excavatus. Dày 140 m.

- Tập 2: Đá vôi màu đen, hạt mịn xen các lớp đá phiến silic chứa Vỏ nón thuộc các đới Nowakia elegans, N. cancellata, N. richteri và Răng nón thuộc các đới Polygnathus nothoperbonus, P. inversus, P. serotinus. Dày 110 m.

- Tập 3: Đá phiến silic màu đen chứa Răng nón thuộc đới Polygnathus serotinus và Vỏ nón thuộc đới Nowakia otomari. Bề dày 60 m.

 - Tập 4: Đá vôi, vôi sét màu xám, phớt hồng, phân lớp trung bình và mỏng chứa Vỏ nón thuộc giống Homoctenus và Răng nón thuộc các đới Polygnathus varcus, P. cristatus, P. disparilisPalmatolepis transitans. Trong tập đá vôi xen vôi sét này, Nguyễn Hữu Hùng sưu tập được một mẫu Dạng lỗ tầng Stachyodes costulata. Bề dày 40 m.

 


Hình 6. Một phần mặt cắt địa chất Mã Pì Lèn, đoạn có quan hệ chuyển tiếp giữa hệ tầng Si Phai và hệ tầng Tốc Tát.

Tại mặt cắt kể trên, hệ tầng Si Phai nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Mia Lé, còn ranh giới trên không rõ ràng: chuyển tiếp (?) hoặc quan hệ kiến tạo với hệ tầng Tốc Tát.

Tạ Hòa Phương cũng đã xác định 8 đới Vỏ nón và Răng nón theo trình tự từ dưới lên như sau: 1) Đới Nowakia acuaria; 2) Đới Polygnathus excavatus; 3) Đới Polygnathus nothoperbonus; 4) Đới Polygnathus inversus; 5) Đới Polygnathus serotinus; 6) Đới Polygnathus varcus; 7) Đới Palmatolepis disparilis; 8) Đới Palmatolepis transitans. Trong số các đới này, đới đầu tiên là đới Vỏ nón.

Căn cứ vào các đới hóa thạch kể trên, tuổi của hệ tầng Si Phai được xác định từ Emsi đến Frasni sớm.

Hình 7. Cột địa tầng mặt cắt Mã Pì Lèn.

Trong đợt khảo sát thực địa gần đây, các tác giả đã nghiên cứu mặt cắt Mã Pì Lèn (xem mô tả ở phần trên). Tại đây lộ những lớp đá vôi thuộc phần trên cùng của hệ tầng Si Phai. Đó là các đá vôi màu xám, xám sẫm, hạt mịn, xen các lớp đá phiến silic mỏng màu xám, dòn, với tổng bề dày khoảng 100 m. Trong đá vôi gặp di tích các nhóm hóa thạch biển khơi (Răng nón, Vỏ nón). Đặc biệt, trong phần cao của mặt cắt, chúng tôi đã quan sát được khoảng ranh giới chuyển tiếp giữa hai hệ tầng Si Phai và Tốc Tát. Có thể thấy sự xuất hiện những dải đá vôi màu xám sáng hơn trên nền đá vôi tối màu của hệ tầng Si Phai (Hình 3-5). Đây là một ranh giới chuyển tiếp rất điển hình, với sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các dải vôi sáng màu, trước khi chuyển sang đá vôi sọc dải điển hình của hệ tầng Tốc Tát. Các tập 1 và 2 của mặt cắt Mã Pì Lèn mô tả ở phần trên là thuộc hệ tầng Si Phai.

Mặt cắt Mã Pì Lèn chính là một bổ sung rất tốt cho mặt cắt chuẩn của hệ tầng Si Phai tại vùng Đồng Văn - Mèo Vạc. Đó chính là đoạn thiếu hụt tại phần cao của mặt cắt Đồng Văn. Chúng tôi đề nghị coi mặt cắt Mã Pì Lèn là mặt cắt tham khảo bổ trợ (hypostratotyp), nhằm mở rộng sự hiểu biết về phần cao nhất của hệ tầng Si Phai và ranh giới chuyển tiếp của nó với hệ tầng Tốc Tát. Qua mặt cắt Mã Pì Lèn, có thể khẳng định quan hệ kiến tạo giữa hệ tầng Si Phai và hệ tầng Tốc Tát tại mặt cắt chuẩn, đã làm mất mất phần trên cùng của hệ tầng Si Phai.

Một điều đáng lưu ý là tại mặt cắt tham khảo bổ trợ này khoảng ranh giới giữa các bậc Frasni và Famen của Devon thượng (giữa các đới hóa thạch Răng nón Palmatolepis hassi Pa. triangularis) lại nằm trong đá vôi xám màu thuộc phần cao hệ tầng Si Phai, trong khi đó, ranh giới Frasni/Famen chính thức được xác lập trong tập đá vôi sọc dải thuộc phần thấp nhất của hệ tầng Tốc Tát tại đoạn mặt cắt đèo Si Phai [11]. Để xác định chính xác ranh giới Frasni/Famen tại mặt cắt Mã Pì Lèn, chắc chắn còn phải đầu tư thêm nhiều công sức trong tương lai.

Sở dĩ chúng tôi xếp tập đá vôi, vôi silic khá dày, bị uốn nếp mạnh tại mặt cắt Mã Pì Lèn vào khối lượng của hệ tầng Si Phai bởi vì chúng chủ yếu gồm các loại đá thường gặp trong hệ tầng Si Phai tại mặt cắt chuẩn (thành phần đá, màu sắc đá và các nhóm hóa thạch tìm được trong chúng đều tương đồng). Tập đá này không thể coi là hợp phần của hệ tầng Tốc Tát vốn được xem là có cấu tạo dạng dải điển hình. Chính Đặng Trần Huyên [4] cũng cho là hệ tầng Si Phai nằm dưới “tầng đá vôi vân đỏ dạng dải” của hệ tầng Tốc Tát.

Trong vùng Đồng Văn, hệ tầng Si Phai còn lộ ở chỏm núi đá vôi trước đồn biên phòng Lũng Cú, tại bản Má Lẻ. Ở đây, đá của hệ tầng chứa nhiều hóa thạch Vỏ nón thuộc các đới từ Nowakia zlichovensis đến N. barrandei, và hệ tầng Si Phai nằm chuyển tiếp trên đá phiến sét của hệ tầng Mia Lé.

Quan hệ địa tầng và tuổi: Ranh giới dưới của hệ tầng Si Phai có thể phân biệt ở hầu hết các mặt cắt của hệ tầng lộ ra trong vùng Đồng Văn - Mèo Vạc. Đây là ranh giới chuyển tiếp từ các lớp đá lục nguyên - carbonat của hệ tầng Mia Lé (D1 ml) lên tập đá vôi xen silic chứa hóa thạch Vỏ nón của hệ tầng Si Phai. Ranh giới trên của hệ tầng Si Phai cũng là ranh giới chuyển tiếp lên hệ tâng Tốc Tát. Tuổi hệ tầng được xác định từ Emsi sớm đến Famen sớm dựa trên những nghiên cứu mới tại mặt cắt Mã Pì Lèn. Cần lưu ý thêm, ranh giới trên của hệ tầng có tính xuyên thời khá rõ: trong khi ở mặt cắt Mã Pì Lèn, khoảng ranh giới Frasni/Famen nằm trọn trong phần cao hệ tầng Si Phai thì tại đoạn mặt cắt ở đèo Si Phai nó lại đi qua trong phần thấp của hệ tầng Tốc Tát nằm trên.

IV. KẾT LUẬN

Hệ tầng Si Phai tại mặt cắt chuẩn chọn (lectostratotyp) lộ không đầy đủ do có quan hệ kiến tạo với hệ tầng Tốc Tát nằm trên.

Mặt cắt Mã Pì Lèn gồm đá vôi xen vôi silic, silic vôi màu xám, chứa hóa thạch Vỏ nón Nowakia sp. và Răng nón Polygnathus sp., Palmatolepis hassi, Pa. triangularis, Ancyrodella nodosa nằm chỉnh hợp dưới đá vôi dạng dải của hệ tầng Tốc Tát, chính là phần cao nhất của hệ tầng Si Phai.

Các tài liệu cổ sinh mới cho phép định tuổi lại cho hệ tầng Si Phai: từ Emsi đến Famen (D1em-D3fm sp). Mặt cắt Mã Pì Lèn được đề xuất làm mặt cắt tham khảo bổ trợ (hypostratotyp) cho hệ tầng Si Phai, nhằm mở rộng sự hiểu biết về phần cao nhất của hệ tầng này và ranh giới chuyển tiếp của nó với hệ tầng Tốc Tát.

Lời cảm ơn: Bài báo được hoàn thành trong khuôn khổ đề tài QG 08-12, với sự tài trợ của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia. Các tác giả xin chân thành cảm ơn.

VĂN LIỆU CHÍNH

1. Bourret R., 1922. Études géologiques sur le Nord Est du Tonkin (Feuilles de Baolac, Caobang, Backan, Thatkhe et Long Tcheou). Bull. SGI, XI/1 : 326 p., Hanoi.

2. Deprat J., 1915. Études géologiques sur la région septentrional du Haut Tonkin. Mém. SGI, IV/4. Hanoi.

3. Đặng Trần Huyên, 1976. Phát hiện Tentaculites Đevon vùng Đồng Văn và ý nghĩa địa tầng của chúng. TC Sinh vật - địa học, XIV/2 : 61-63. Hà Nội.

4. Đặng Trần Huyên, 1979. Dẫn liệu mới về địa tầng Đevon vùng Đồng Văn. TC Địa chất, 142 : 22-24. Hà Nội.

5. Đovjikov A.E. (Chủ biên), 1965. Địa chất miền Bắc Việt Nam. Tổng cục ĐC, Hà Nội (bản tiếng Nga).

6. Hoàng Xuân Tình, 1976. Về các trầm tích Devon hạ ở tờ Bảo Lạc. Bản đồ Địa chất, 30 : 20-27. Liên đoàn BĐĐC, Hà Nội.

7. Nguyễn Hữu Hùng, Đoàn Nhật Trưởng, Đặng Trần Huyên, 1991. Tài liệu mới về các trầm tích Devon trong khối Bắc Sơn. TC Các khoa học về TĐ, 13/2 : 33-39. Hà Nội.

8. Tạ Hoà Phương, 1994: New discovery of Devonian and Lower Carboniferous pelagic fossils in Dong Van area (Ha Giang province, Việt Nam). Proc. Intern. Symp. on Strat. Correl. of SE Asia, p. 62-68. Bangkok.

9. Tạ Hoà Phương, 2000. Địa tầng Devon - Carbon trong mặt cắt Đồng Văn (Hà Giang). TC Địa chất, loạt A, Phụ trương/2000, tr. 2-9. Hà Nội.

10. Tạ Hoà Phương, 2002. Sinh địa tầng Răng nón Đevon - Carbon tại mặt cắt Đồng Văn (Hà Giang). TC Địa chất, A/268 : 1-8. Hà Nội.

11. Tạ Hoà Phương, Nguyễn Thị Thuỷ, Đoàn Nhật Trưởng, Nguyễn Công Thuận, 2004. Về ranh giới Frasni/Famen (Devon thượng) ở Đông Bắc Bắc Bộ. TC Các khoa học về TĐ, 26/3 : 216-221. Hà Nội.

12. Tong-Dzuy Thanh, 1967. Les Coelentérés du Dévonien au Vietnam. Partie I. Les coraux tabulatomorphes du Dévonien au Nord Vietnam. Acta Sci. Vietnam., Sect. Biol.-Geogr.-Geol., III :  1-304. Hà Nội.

13. Tống Duy Thanh, 1979. Địa tầng Devon ở khu vực Bắc Bộ. Bản đồ Địa chất, 42 : 32-52. Liên đoàn BĐĐC, Hà Nội.

14. Tống Duy Thanh (Chủ biên), 1986. Hệ Đevon ở Việt Nam. Nxb KH&KT. Hà Nội. 141 tr.

15. Tống Duy Thanh, Nguyễn Đức Khoa, 2000. Mục: Si Phai (Chi Phai) (Hệ tầng, Formation). In: Vũ Khúc (Chủ biên). Sách tra cứu các phân vị địa chất Việt Nam. Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam xuất bản. Hà Nội. tr. 207-208.

16. Tống Duy Thanh, Vũ Khúc (Chủ biên), 2005. Các phân vị địa tầng Việt Nam. NXB Đại học quốc gia Hà Nội. 504 tr. (Bản tiếng Anh, 2006).

17. Vũ Khúc, Đào Đình Thục, Lê Duy Bách, Tống Duy Thanh, Trần Tất Thắng, Trần Văn Trị, Trịnh Dánh 2000. Sách tra cứu các phân vị địa chất Việt Nam. Cục ĐC&KS VN. Hà Nội, 432 tr.