NGHIÊN CỨU DI SẢN ĐỊA CHẤT VÀ XÂY DỰNG CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT Ở
VIỆT
1LA THẾ PHÚC, 2TRẦN TÂN VĂN
1Bảo tàng Địa chất, 6
Phạm Ngũ Lão, Hà Nội
2Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Thanh Xuân, Hà Nội
Tóm tắt: Việc điều tra, nghiên
cứu di sản địa chất, thành lập khu bảo tồn địa chất và xây dựng công viên địa
chất nhằm mục đích bảo tồn, quản lý và khai thác hợp lý di sản địa chất cho sự
phát triển bền vững của đất nước. Các nhà khoa học địa chất Việt Nam đã thực
hiện khá tốt việc điều tra, nghiên cứu di sản địa chất, đã tiếp cận, nhận diện,
mô tả, phân loại hàng trăm di sản địa chất phù hợp với yêu cầu giao lưu hội
nhập quốc tế; đã đề nghị thành lập và xếp hạng các di sản địa chất và các khu
bảo tồn địa chất; đề nghị xây dựng các công viên địa chất. Tuy nhiên, thực
trạng quá trình nghiên cứu di sản địa chất ở Việt Nam được phát triển với tốc
độ rất chậm so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, do nhiều
nguyên nhân. Cho tới nay, nước ta chưa có khu bảo tồn địa chất nào được chính
thức thành lập, chưa có công viên địa chất nào được xây dựng.
I. MỞ
ĐẦU
Di sản địa chất (DSĐC) là phần tài nguyên địa chất có giá trị nổi bật về khoa học, giáo dục, thẩm
mỹ và kinh tế. Chúng bao gồm các cảnh quan địa mạo, các miệng núi lửa đã tắt
hoặc đang hoạt động, các hang động, hẻm vực sông, hồ tự nhiên, thác nước, các
diện lộ tự nhiên hay nhân tạo của đá và quặng, các di chỉ cổ sinh; các
thành tạo, cảnh quan còn ghi lại những biến cố, bối cảnh địa chất đặc biệt; các địa điểm mà tại đó có thể quan sát được
các quá trình địa chất đã và đang diễn ra hàng ngày, thậm chí cả các khu
mỏ đã ngừng khai thác v.v… DSĐC là di sản quan trọng hàng đầu trong
số các di sản thiên nhiên. Cũng như các di sản khác, DSĐC là tài nguyên không
tái tạo được, cho nên cần được bảo tồn, quản lý và khai thác sử dụng hợp lý cho
sự phát triển bền vững của đất nước.
Hội nghị quốc
tế lần thứ hai về Bảo tồn di sản địa chất và cảnh quan thiên nhiên họp tại
Malvern (nước Anh) vào tháng 7/1973 đã đi đến một Hiệp ước về Bảo tồn DSĐC.
Việc phân loại DSĐC được thực hiện theo Tiêu chuẩn phân loại tạm thời các DSĐC
của UNESCO gồm 10 kiểu như sau: A. Cổ sinh; B. Địa mạo; C. Cổ môi trường; D. Đá
(magma, trầm tích, biến chất); E. Địa tầng; F. Khoáng vật (Khoáng sản); H. Kinh
tế địa chất; I. Kiến tạo (lịch sử địa chất); K. Các vấn đề vũ trụ; L. Những đặc
trưng địa chất tầm cỡ lục địa/đại dương [10].
Năm 1997,
UNESCO đã đề nghị thành lập Chương trình Công viên Địa chất (UNESCO Geoparks
Program) trên phạm vi toàn cầu nhằm mục đích bảo vệ an toàn các DSĐC có tầm quan
trọng quốc tế và phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của các khu vực. Mạng
lưới toàn cầu về Công viên Địa chất đã được thiết lập. UNESCO đã ban hành nội
dung tự đánh giá để đăng ký vào mạng lưới công viên địa chất (CVĐC) quốc tế của
UNESCO, gồm 5 tiêu chí: 1. Địa chất và phong cảnh; 2. Hệ thống quản lý; 3.
Thông tin và giáo dục môi trường; 4. Địa chất du lịch; 5. Kinh tế khu vực bền
vững. Mỗi tiêu chí bao hàm nhiều nội dung, mỗi nội dung tương ứng với một thang
điểm [11].
DSĐC đã được các nhà khoa học địa chất Việt
Nghiên cứu
DSĐC, thành lập các khu bảo tồn địa chất (KBTĐC) và xây dựng CVĐC là 3 giai
đoạn kế tiếp nhau của một quá trình nghiên cứu phát triển DSĐC, là xu thế khách
quan, là logic tất yếu của công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này.
Thực chất đó là một quá trình nghiên cứu triển khai nhằm đạt được mục tiêu bảo
vệ bảo tồn, quản lý và khai thác hợp lý DSĐC, di sản thiên nhiên cho sự phát
triển bền vững kinh tế xã hội của đất nước.
II.
HIỆN TRẠNG NGHIÊN CỨU VÀ BẢO TỒN DI SẢN ĐỊA CHẤT Ở VIỆT
1.
Công tác nghiên cứu DSĐC, thành lập các KBTĐC ở Việt Nam
Những năm gần đây, tiếp thu xu hướng mới của thế giới về
bảo tồn thiên nhiên, các nhà địa chất Việt Nam (thuộc Cục Địa chất và Khoáng sản
Việt Nam, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, Bảo tàng Địa chất, Viện Khoa học
Địa chất và Khoáng sản, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội) đã bắt đầu có
những hoạt động điều tra, nghiên cứu các DSĐC tiến tới thành lập các KBTĐC và
xây dựng CVĐC.
- Các nhà địa chất ở Viện Tài nguyên và Môi trường Biển,
Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam hợp tác với các nhà địa chất Hoàng gia Anh
đã có những hoạt động cụ thể trong việc nghiên cứu DSĐC và xây dựng hồ sơ trình
duyệt và quảng bá giúp cho Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản Thiên
nhiên Thế giới lần thứ 2 vào năm 2000 (theo tiêu chí về địa chất - địa mạo) [3,
4, 9].
- Các nhà địa chất ở Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội kết
hợp với các nhà nghiên cứu hang động của Hội Địa lý Hoàng gia Anh đã triển khai
nghiên cứu tính phong phú, đa dạng về địa chất, hang động và xây dựng hồ sơ
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên
Thế giới vào năm 2003 [5]. Kết quả của nhiều
năm hợp tác nghiên cứu đã đưa đến việc xuất bản cuốn chuyên khảo lớn “Kỳ quan
hang động Việt Nam” [2]. Đây là một tài liệu quý và đồ sộ về kết quả nghiên cứu
hang động Việt Nam. Ngoài ra, để mở rộng nghiên cứu và phát triển du lịch, các
tác giả của Trường đã triển khai nhiều đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia
và nhiều đề tài khác (cấp tỉnh) phục vụ du lịch sinh thái ở nhiều địa phương.
- Từ năm 1998,
các nhà địa chất ở Bảo tàng Địa chất đã hợp tác với các nhà nghiên cứu của Đại
học Colorado at Boulder và Sở Địa chất Hoa Kỳ triển khai một loạt hoạt động điều
tra, nghiên cứu theo hướng bảo tồn các DSĐC ở nhiều vùng của Việt Nam. Đặc
biệt, đề án “Nghiên cứu các KBTĐC ở
Việt Nam” (2001-2004) do PGS. TSKH. Trịnh Dánh làm chủ nhiệm là đề án đầu tiên nghiên cứu
theo hướng bảo tồn DSĐC. Kết quả sơ bộ của Đề án đã khẳng định Việt
Hiện nay, Bảo tàng Địa chất đang thực hiện đề tài: “Nghiên cứu di sản
địa chất và bảo vệ môi trường khu vực thác Trinh Nữ, huyện Cư Jut, tỉnh Đắk
Nông, Việt Nam” do UNESCO tài trợ.
- Cũng theo hướng
này, các nhà địa chất ở Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản đã và đang có
những hoạt động nghiên cứu hữu hiệu:
+ Từ năm 1991
đến nay, Viện đã hợp tác cùng các nhà nghiên cứu hang động Vương quốc Bỉ, khảo
sát được gần 300 hang động trong phạm vi các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình,
Thanh Hóa, Ninh Bình, Bắc Cạn, Yên Bái và Hà Giang v.v.. Kết quả đã phát hiện
nhiều hang động có giá trị địa chất, khảo cổ, du lịch v.v., như hang Hoa (Tủa
Chùa, Lai Châu), hang Nữ Hoàng (Sơn La), hang Rồng (Tân Lạc, Hòa Bình), hang
Cống Nước (Tam Đường, Lai Châu) sâu nhất Đông Nam Á (-602 m) v.v..
+ Cùng với các
nhà khoa học của nhiều chuyên ngành khác nhau, thuộc nhiều trường đại học của
Vương quốc Bỉ và Sở Địa chất Bỉ, Viện đã thực hiện liên tiếp 2 dự án hợp tác
Việt-Bỉ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đá vôi: 1. Phát triển nông
thôn các vùng miền núi đá vôi Tây Bắc Bộ bằng các biện pháp quản lý bền vững
đất, nước và giáo dục cộng đồng (VIBEKAP, 1998-2003); và 2. Tăng cường sự trao
đổi giữa các bên tham gia trong việc bảo tồn cảnh quan đá vôi Pu Luông - Cúc
Phương (2002-2006) [7, 8]. Đặc biệt,
ngày 21/6/2007, cùng với các đối tác Bỉ và Việt Nam (Viện Dân tộc học, Viện
Khoa học Xã hội Việt Nam và UBND các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn), Viện đã
chính thức khởi động dự án hợp tác Việt-Bỉ thứ ba “Nâng cao năng lực nghiên cứu
phát triển CVĐC ở một số khu vực Đông Bắc Bộ, Việt Nam”. Dự án do Hội đồng Liên
trường các trường đại học Vương quốc Bỉ hỗ trợ thực hiện trong thời gian 5 năm
với mục tiêu chính là nâng cao năng lực của các đối tác Việt Nam trong lĩnh vực
kể trên.
+ Trong các năm
2003 và 2004, đã tiến hành điều tra, nghiên cứu các giá trị địa chất - địa mạo
và cảnh quan ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pu Luông, tỉnh Thanh Hóa và giúp UBND
tỉnh Hòa Bình thành lập mới Khu Bảo tồn Thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông. Viện đã tổ chức thành công Hội nghị
liên ngành quốc tế về Bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đá vôi
(Transkarst, 2004), trong đó xây dựng các CVĐC được coi là giải pháp tối ưu rất
đáng quan tâm. Kết quả của Hội nghị đã được tổng kết và biên soạn thành cẩm
nang “Phát triển bền vững các vùng đá vôi ở Việt Nam” [8].
+ Từ năm 2005
đến nay, Viện đã và đang hợp tác với UBND tỉnh Bắc Cạn và Vườn Quốc gia Ba Bể
chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới, trong đó
các tiêu chí địa chất - địa mạo và cảnh quan đóng vai trò quyết định [6]. Viện
đã và đang hợp tác cùng các chuyên gia Italia khảo sát địa chất karst khu vực
Vịnh Hạ Long với mong muốn góp phần xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận mở
rộng khu di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long, và đang phối hợp với Ban
Quản lý Khu Dự trữ Sinh quyển Quần đảo Cát Bà, Hải Phòng để xây dựng đề án
thành lập CVĐC tại khu vực này.
+ Ngày
19/9/2007, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản và Bảo tàng Địa chất đã ký bản
Ghi nhớ về hợp tác toàn diện trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là lĩnh vực
nghiên cứu DSĐC.
+
Cuối năm 2007 đến nay, Viện phối hợp với một số cơ quan trong nước cùng thực
hiện đề tài: “Điều tra nghiên cứu các di sản địa chất và đề xuất
xây dựng công viên địa chất ở miền Bắc” mã số KC 08.20/06-10. Đây là đề tài
nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước đầu tiên về lĩnh vực này được thực
hiện ở nước ta.
+ Hiện nay, để
tập trung sức mạnh, hoạt động có tổ chức và nhất quán, đáp ứng yêu cầu hội nhập
khu vực và thế giới trong lĩnh vực phát triển nghiên cứu DSĐC, Viện đang nỗ lực
cùng với Uỷ ban UNESCO Việt Nam và các cơ quan hữu quan đề xuất và xúc tiến
thành lập Uỷ ban Quốc gia Công viên Địa chất
ở Việt Nam.
Như trên có thể
thấy, ở giai đoạn 1 của quá trình nghiên cứu DSĐC được tiến hành khá tốt. Các
nhà địa chất Việt Nam đã tiếp cận nghiên cứu, nhận dạng, mô tả, phân loại các
DSĐC theo hệ thống nghiên cứu chung của thế giới. Kết quả nghiên cứu đã thành
lập được hai khu di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận theo tiêu
chí địa chất - địa mạo, đã đề xuất thành lập các KBTĐC và xây dựng CVĐC - đó là
hướng đi đúng đắn. Tuy vậy, việc ứng dụng triển khai các kết quả nghiên cứu vào
thực tiễn phát triển lĩnh vực này ở Việt Nam còn rất yếu. Vì thế đến nay chưa
có KBTĐC nào được thành lập ở nước ta.
2.
Công tác xây dựng công viên địa chất ở Việt
Xây dựng CVĐC là
bước phát triển tiếp theo của công tác nghiên cứu DSĐC và thành lập các KBTĐC,
là giải pháp tốt nhất để bảo vệ DSĐC (đây cũng là bài học kinh nghiệm của các
nước phát triển trong công tác bảo tồn DSĐC), là bước khai thác bền vững tiềm
năng tài nguyên DSĐC. Bởi vì CVĐC được thành lập (trong đó sẽ có Bảo tàng địa
chất ngoài trời) là nơi lưu giữ, bảo tồn, quản lý và khai thác hợp lý DSĐC cho
sự phát triển bền vững kinh tế xã hội của đất nước. Theo đánh giá của các nhà
địa chất, đối chiếu với các tiêu chí của UNESCO về xây dựng - xếp hạng CVĐC thì
Việt Nam rất có tiềm năng phát triển CVĐC với đủ các cấp độ, từ cấp quốc tế →
quốc gia → địa phương. Theo tài liệu nghiên cứu bước đầu trong lĩnh vực này,
các đối tượng tiềm năng cho CVĐC cấp quốc tế là các vùng: Hạ Long, Phong Nha -
Kẻ Bàng; cấp quốc gia là các vùng: quần đảo Cát Bà, hồ Ba Bể, núi Phan Si Pan,
cao nguyên đá vôi Đồng Văn - Mèo Vạc, rừng Cúc Phương - Ngổ Luông, ghềnh Đá
Đĩa, thác Trinh Nữ… . Tiềm năng thì rất lớn, nhưng công việc xây dựng CVĐC chưa
được đầu tư thực hiện. Từ phía Chính phủ, do ngân sách nhà nước còn nhiều khó
khăn cho nên chưa có sự đầu tư đúng tầm và dài hơi cho lĩnh vực này. Về phía
các doanh nghiệp, các công ty ngoài quốc doanh, các nhà đầu tư (tư nhân) Việt
Nam cũng có nhiều khó khăn do mới bước vào nền kinh tế thị trường, chỉ dám đầu
tư nhỏ lẻ cho những lĩnh vực sản sinh ngay lợi nhuận trước mắt. Mặt khác, cùng
với nhận thức hạn chế về tiềm năng, vai trò và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của
DSĐC, về mối quan hệ bảo tồn và khai thác hợp lý DSĐC... nên hầu hết các doanh
nghiệp, doanh nhân Việt Nam chưa dám đầu tư lớn cho lĩnh vực mới mẻ này trên cơ
sở hạ tầng yếu kém. Vì thế, cho đến nay nước ta chưa có CVĐC nào được xây dựng.
Tóm lại, công
tác nghiên cứu DSĐC (giai đoạn 1) được các nhà địa chất Việt Nam thực hiện khá
tốt, cách tiếp cận vấn đề và giải quyết vấn đề nghiên cứu DSĐC có cơ sở khoa
học, phù hợp với cách làm của thế giới, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Việc
thành lập các KBTĐC (thuộc giai
đoạn 2 kế tiếp) mới chỉ đạt được mục tiêu
quản lý DSĐC. Và xây dựng CVĐC (thuộc giai đoạn 3) mới đạt được mục tiêu
bảo tồn và khai thác hiệu quả, hợp lý các giá trị của DSĐC cho sự phát triển
bền vững. Cả hai công việc này đã được các nhà địa chất đề xuất nhưng chưa được
tiến hành, cho nên tính đến thời điểm này nước ta chưa có KBTĐC và CVĐC nào
được thành lập và xây dựng.
3. Công tác bảo tồn và quản lý DSĐC
Công tác bảo
tồn và quản lý DSĐC đang có nhiều bất cập và gần như bỏ ngỏ, các DSĐC đang đứng
trước nguy cơ bị xâm hại do tác động của tự nhiên và con người từ nhiều phía.
Đối với các yếu tố xâm hại tự nhiên (do thiên nhiên), cần được đầu tư nghiên
cứu để bảo quản, phòng ngừa nhằm giảm thiểu tác hại, thiên tai. Thực hiện công
việc này rất khó khăn và còn xa vời đối với Việt
Hiện trạng công
tác bảo tồn DSĐC còn kém so với bảo tồn thiên nhiên khác (như bảo tồn cảnh quan
và đa dạng sinh học). Để bảo tồn cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học, từ
năm 1962 đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ra quyết định thành lập được 128 khu
Rừng đặc dụng, 28 Vườn quốc gia, 62 khu Bảo tồn thiên nhiên và 38 khu Rừng bảo
vệ cảnh quan, trong đó có một số khu bảo tồn đặc biệt, được Quốc tế công nhận
như Di sản Thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và Di sản Thiên nhiên thế giới Phong
Nha - Kẻ Bàng. Trong khi đó, công tác bảo tồn DSĐC ở Việt Nam còn ở mức độ
thấp, chưa có một KBTĐC nào được thành lập. Sự thật cũng đáng để suy nghĩ: cả
hai di sản thiên nhiên thế giới của Việt Nam là Vịnh Hạ Long và Phong Nha - Kẻ
Bàng đã được UNESCO công nhận, trong đó các tiêu chí địa chất - địa mạo có vai
trò quyết định. Thậm chí các ứng cử viên tiềm năng cho danh hiệu này là hồ Ba
Bể, quần đảo Cát Bà, cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc… cũng dựa chủ yếu trên các
tiêu chí địa chất - địa mạo.
Hiện nay, các văn
bản pháp quy liên quan tới bảo vệ bảo tồn di sản nói chung đã có. Từ các văn
bản pháp quy có hiệu lực cao là các luật (như: Luật Di sản, Luật Khoáng sản,
Luật Bảo vệ Môi trường...); văn bản dưới luật có các nghị định của Chính phủ
hướng dẫn thực hiện luật; và các thông tư của các Bộ ngành, liên Bộ ngành, đến
các văn bản pháp quy ở mức thấp hơn là các quy định, nội quy, quy chế của chính
quyền địa phương (như tỉnh, huyện, xã) và các cơ quan quản lý trực tiếp (là các
Ban quản lý ở các Khu di sản, Vườn quốc gia…). Nội dung các văn bản này còn
chung chung, khái niệm về DSĐC chưa được xác định và làm rõ, chưa có chế tài đủ
mạnh để răn đe. Công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức cộng đồng
về khoa học địa chất, về DSĐC, về bảo vệ môi trường thiên nhiên... còn yếu kém
cả về nội dung lẫn hình thức. Người dân và thậm chí cả các doanh nghiệp, cơ
quan chủ quản chưa nhận thức được ý nghĩa to lớn, thiết thực của việc bảo tồn
DSĐC, vì vậy luôn có sự xung đột giữa phát triển cơ sở hạ tầng (như xây dựng
nhà cửa dịch vụ, nhà dân sinh, làm đường giao thông, khai thác khoáng sản...),
phát triển dịch vụ du lịch với bảo tồn DSĐC, xung đột giữa mức thu nhập kiếm
sống hàng ngày của người dân nghèo với bảo vệ bảo tồn DSĐC... . Vì thế nhiều
DSĐC đã bị phá huỷ, như di sản hoá thạch cá ở Đồ Sơn (Hải Phòng) do làm đường
giao thông, hoá thạch thực vật ở Nà Dương (Lộc Bình, Lạng Sơn) do khai thác
than (Ảnh 1), đá bazan dạng cột ở xã Đăk Nia (Đăk Nông) do khai thác làm đá
cảnh và vật liệu xây dựng (Ảnh 2), hay các bề mặt karst, thạch nhũ trong hang
động đá vôi, núi đá vôi (ở các DSĐC trên vùng núi đá vôi) do người dân khai
thác làm hòn Non bộ (Ảnh 3), khai thác đá vôi cho xây dựng ...
|
|
|
|
|
Ảnh 1 a, b. Các thân cây hoá thạch ở bãi thải khai thác than Nà Dương,
huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn (Ảnh: La Thế Phúc, 2007). |
||
|
a |
b |
|
|
Ảnh 2 a, b. Khai thác đá bazan dạng cột ở thôn
9, xã Đăk Nia, huyện Đăk Nông, |
||
|
a |
b |
|
|
Ảnh 3 a, b. Các nhũ đá, chuông đá và bề mặt karst được khai thác để
bán làm hòn non bộ (Ảnh: Nguyễn Việt Hưng, 2008, chỉ mang tính minh họa). |
||
Như vậy, cũng có thể dễ dàng nhận thấy lý do: vì chưa
có sự thẩm định các KBTĐC của cấp thẩm quyền nên chưa có một khu BTĐC nào được
thành lập. Các DSĐC nằm trong các vườn quốc gia (hay các khu bảo tồn di tích
lịch sử văn hoá, bảo tồn thiên nhiên nói chung) đương nhiên được quản lý, bảo
vệ bảo tồn; còn các DSĐC không nằm trong các vườn quốc gia, không thuộc các khu
bảo tồn thiên nhiên, không thuộc các khu bảo tồn di tích lịch sử văn hóa ...
tức là phân bố rải rác ở các địa phương thì không được quản lý, bảo vệ bảo tồn
và thỏa sức bị xâm hại.
III.
THẢO LUẬN
Công tác
thành lập các KBTĐC và xây dựng CVĐC đã được đề xuất, nhưng chưa được thực hiện,
có thể do 3 nguyên nhân chủ yếu. Thứ nhất là do điều kiện kinh tế của
nước ta còn nhiều khó khăn nên chưa có sự đầu tư đúng tầm cho lĩnh vực nghiên
cứu mới này. Thứ hai là do chưa có cơ sở khoa học - pháp lý rõ ràng cho
việc tổ chức triển khai thẩm định, xét duyệt, phân loại, xếp hạng các DSĐC, các
KBTĐC và xây dựng CVĐC, và chưa có sự thống nhất, đồng bộ, rành mạch trong quản
lý di sản thiên nhiên nói chung và DSĐC nói riêng cả từ vĩ mô đến vi mô. Thứ
ba do nhận thức của cộng đồng về phát triển lĩnh vực này còn nhiều hạn chế,
trong đó có cả các nhà quản lý và các nhà khoa học, địa chất.
Trên thực
tế, các nhà địa chất Việt Nam chưa có tư duy thực tiễn phát triển kinh tế liên
quan đến lĩnh vực nghiên cứu DSĐC, chưa có kinh nghiệm thuyết phục, kêu gọi đầu
tư ở các Bộ ngành, cơ quan khác nhau từ Trung ương đến địa phương, chưa mở rộng
quan hệ giao lưu hợp tác và thuyết trình với các nhà đầu tư trong và ngoài
nước. Để khắc phục sự chậm trễ trong quá trình nghiên cứu và phát triển DSĐC
cần phải tiến hành đồng thời các giải pháp sau đây:
1. Giải
pháp vĩ mô: cần
có sự chỉ đạo thống nhất từ Chính phủ đến các Bộ nghành, bắt đầu từ việc xác
định mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu DSĐC, đến việc xây dựng cơ sở khoa học và
pháp lý nhằm thiết lập các tiêu chí khoa học và tạo lập hành lang pháp lý (các
văn bản pháp quy đi kèm với các chế tài đủ mạnh) cho việc nghiên cứu DSĐC,
thành lập các KBTĐC và xây dựng CVĐC. Tiến độ thực hiện công việc này phụ thuộc
vào các nhà lãnh đạo và quản lý điều hành vĩ mô cùng với sự hợp tác của các nhà
khoa học chuyên ngành. Bài học kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy cần làm tốt
giải pháp này. Cụ thể như sau: năm 1985, các nhà địa chất Trung Quốc đề nghị
thành lập các KBTĐC, thì năm 1987, Bộ chủ quản đã ra “Thông tư về việc thành
lập các KBTĐC”. Và năm 1995 ban hành các văn bản: “Quy định về việc bảo vệ và
quản lý các DSĐC”, “Luật bảo tồn DSĐC”, “Luật bảo tồn di sản thiên nhiên”. Năm
2000, Bộ Đất và Tài nguyên Trung Quốc ban hành “Thông tư về tổ chức và định
biên nhân lực ở các KBTĐC” và thành lập “Uỷ ban Đánh giá KBTĐC”, ban hành
“Thông tư về việc đăng ký thành lập KBTĐC quốc gia” với bộ hồ sơ đăng ký mẫu,
hướng dẫn báo cáo điều tra tổng thể, tiêu chuẩn đánh giá, quy hoạch tổng thể
các KBTĐC quốc gia, hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban đánh giá KBTĐC
quốc gia. Những tài liệu này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành và quản
lý một cách hệ thống các KBTĐC quốc gia ở Trung Quốc. Ngay sau đó hàng loạt các
DSĐC ở nhiều địa phương được thành lập hồ sơ đăng ký để công nhận là KBTĐC quốc
gia. Cuối năm 2006, Trung Quốc đã có 142 KBTĐC (quốc gia, khu vực và toàn cầu).
Đây chính là cơ sở cho việc xây dựng và phát triển mạng lưới CVĐC to lớn ở
Trung Quốc ngày nay. Tính đến đầu năm 2008, Trung Quốc đã có 138 CVĐC quốc gia,
quốc tế và rất nhiều CVĐC địa phương nằm rải rác ở các tỉnh. Theo các cán bộ
lãnh đạo quản lý của Vụ Tài nguyên và Môi trường, Sở Địa chất Trung Quốc trong
buổi làm việc với đoàn công tác của Bảo tàng Địa chất Việt Nam (ngày
27/02/2008) tại Bắc Kinh, để trở thành CVĐC phải hội tụ đủ 3 yếu tố: khoa học +
du lịch + địa phương. Yếu tố địa phương được đề cập ở đây chính là tính năng
động của địa phương có DSĐC. Tính năng động của địa phương lại phụ thuộc vào sự
nghiên cứu và tư vấn của các nhà địa chất, hay có thể nói là phụ thuộc vào tính
năng động và trình độ marketing của các nhà địa chất. Điều đó cho thấy các nhà
địa chất có vai trò đặc biệt quan trọng và tiên quyết cho việc phát triển lĩnh
vực này.
Trong
tương lai gần, kết quả của đề tài: “Điều tra nghiên cứu các di sản địa chất và
đề xuất xây dựng công viên địa chất ở miền Bắc Việt Nam” (2008-2010) sẽ xây dựng сơ sở khoa học và pháp lý cho việc phân loại, xếp
hạng DSĐC, các KBTĐC và xây dựng CVĐC, làm nền tảng cho sự phát triển lĩnh vực
nghiên cứu này ở Việt Nam.
2. Nhóm
giải pháp vi mô: Đi
đôi với các văn bản pháp quy với chế tài đủ mạnh, cần đẩy mạnh công tác tuyên
truyền giáo dục để nâng cao nhận thức cộng đồng về DSĐC. Phải làm cho người dân
hiểu rõ ý nghĩa của DSĐC và khả năng không tái tạo được của nó, các giá trị
khoa học, giá trị kinh tế và vai trò phát triển kinh tế xã hội của DSĐC. Một
khi cộng đồng đã hiểu được vai trò, ý nghĩa của DSĐC thì họ sẽ có ý thức bảo
tồn và khai thác sử dụng hợp lý DSĐC cho sự phát triển bền vững, đặc biệt là
đối với người dân ở những địa phương có DSĐC, họ sẽ hiểu được chính họ là người
sẽ được hưởng lợi trước tiên từ DSĐC. Như vậy, trên cơ sở pháp lý (các văn bản
pháp luật và dưới luật, các quy định, nội quy…) cùng với sự hiểu biết và tự
giác của người dân, vấn đề bảo vệ bảo tồn DSĐC (tránh sự xâm hại của con
người), vấn đề quản lý và khai thác hợp lý DSĐC cho sự phát triển bền vững kinh
tế xã hội sẽ được thực hiện tốt.
Dưới góc độ triết học thì trên đây mới
chỉ là điều kiện “cần”, thuộc về “ý thức”;
còn thiếu điều kiện “đủ”, thuộc về “vật chất” - đó là điều kiện kinh tế.
Nền kinh tế Việt Nam, nhìn chung, còn thấp kém, mọi đầu tư phát triển đều tập trung
vào những lĩnh vực sản sinh lợi nhuận trực tiếp trước mắt, chủ yếu trong lĩnh
vực sản xuất dịch vụ; tỷ phần đầu tư cho công tác nghiên cứu còn rất thấp. Đầu
tư cho nghiên cứu nói chung ở VN có 3 nguồn: thứ nhất là từ phía Nhà nước; thứ
hai là từ phía nhân dân hay các doanh nghiệp, doanh nhân; thứ 3 là từ nước ngoài,
trong đó, các nguồn thứ nhất và thứ hai thuộc nguồn nội lực, hiện đang gặp rất
nhiều khó khăn do cả 2 yếu tố khách quan (do đất nước còn nghèo) và chủ quan
(do nhận thức cộng đồng từ vĩ mô đến vi mô đối với DSĐC) chi phối; còn thứ ba
thuộc nguồn ngoại lực. Việt Nam đã mở cửa hội nhập, nguồn đầu tư nước ngoài khá
lớn nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào những lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, cầu đường….,
còn lĩnh vực nghiên cứu DSĐC và xây dựng CVĐC do ít người biết đến nên chưa
được chú ý đầu tư. Trao đổi hợp tác quốc tế về nghiên cứu ứng dụng để hai bên
cùng có lợi là việc làm cần thiết và hữu hiệu đối với một nước có nền kinh tế
đang phát triển như nước ta. Vì thế, không nên chỉ trông chờ vào đầu tư từ nguồn
vốn nhà nước, các nhà địa chất Việt Nam cần tận dụng cơ hội, mở rộng quan hệ
hợp tác kêu gọi đầu tư từ nhiều phía (cả tổ chức và cá nhân) trong và ngoài nước
để khai thác nguồn tài nguyên DSĐC to lớn này cho sự phát triển bền vững đất
nước.
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Nghiên
cứu DSĐC đã được các nhà khoa học địa chất Việt Nam chú ý đề xuất triển khai,
tiếp cận giao lưu hội nhập quốc tế. Những kết quả đạt được bước đầu rất đáng
khích lệ. Các nhà địa chất đã nghiên cứu phân loại và đề nghị xếp hạng cho các
DSĐC, đề nghị thành lập và xếp hạng hàng chục KBTĐC, đã định hướng các nghiên
cứu tiếp theo phù hợp với xu hướng chung của thế giới;
2. Tốc độ phát triển lĩnh vực nghiên cứu DSĐC còn rất chậm so
với các nước trong khu vực và trên thế giới; vì thế đến nay chưa có KBTĐC nào
được thành lập và chưa có CVĐC nào được xây dựng ở Việt
3. Đề
nghị các cấp thẩm quyền sớm hoàn thiện và ban hành các văn bản pháp quy liên quan
tới công tác nghiên cứu phát triển DSĐC (như bảo tồn DSĐC; cơ sở khoa học -
pháp lý cho việc đăng ký, xét duyệt và thành lập các KBTĐC, xây dựng CVĐC; tổ chức
đánh giá, thẩm định và xếp hạng các DSĐC, các KBTĐC và CVĐC; tổ chức quản lý và
khai thác DSĐC…), trước mắt là các văn bản pháp quy đi đôi với chế tài đủ mạnh
về bảo vệ bảo tồn DSĐC để kịp thời ngăn chặn xung đột giữa hoạt động kinh tế
dân sinh với bảo tồn DSĐC, di sản thiên nhiên;
4. Nghiên cứu DSĐC cần phải
được xác định là một trong các nhiệm vụ chính thống và quan trọng trong các chương trình điều tra cơ bản về địa
chất, các chương trình khoa học công nghệ trọng điểm của nhà nước về khoa học
Trái đất, các đề án, đề tài nghiên cứu khoa học về địa chất của các bộ ngành
liên quan;
5. Các
nhà địa chất cần năng động hơn nữa trong việc nghiên cứu ứng dụng DSĐC, tích
cực mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước, chịu khó marketing (đến các
địa phương có DSĐC, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, đến các tổ chức,
doanh nhân giàu tiềm lực…) để hợp tác nghiên cứu và kêu gọi đầu tư (trong nước
cũng như quốc tế) nhằm phát triển lĩnh vực nghiên cứu này ở Việt Nam.
Công trình
được hoàn thành dưới sự hỗ trợ của Đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước mã số
KC 08.20/06-10.
VĂN LIỆU
1. Nguyễn Quang Mỹ (Chủ biên),
2006. Việt Nam, di sản thế giới - Vườn Quốc gia Phong Nha -
Kẻ Bàng. Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
2. Nguyễn Quang Mỹ, Howard
Limbert và nnk, 2001. Kỳ quan hang động Việt Nam. Trung
tâm Bản đồ và tranh ảnh giáo dục, Hà Nội.
3. Trần Đức Thạnh, 1998. Lịch sử địa chất vịnh Hạ Long. Nxb Thế giới, Quảng Ninh.
4. Trần Đức Thạnh, Waltham Tony,
2001. The outstanding value of the geology of Hạ Long Bay. Advances in Nat. Sci., 2/3.
5. Trần
Nghi (Chủ biên), 2003. Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình,
Việt Nam. Cục ĐC và KS VN, Hà Nội.
6. Trần
Tân Văn, Phạm Khả Tùy, Thái Duy Kế, Bùi Văn Định, Nông Thế Diễn, 2005. Con đường
tiến tới danh hiệu Di sản Thiên nhiên thế giới của Vườn Quốc gia Ba Bể (Bắc
Cạn). Địa chất và Khoáng sản, 9 : 529-545. Viện Nghiên cứu ĐC & KS. Hà
Nội.
7. Tran Tan Van, Pham Kha Tuy, Thai Duy
Ke, 2004. Geological
characteristics and values of the Pu Luong nature reserve, Thanh Hoa province,
8. Trần Tân Văn, Vũ Thanh Tâm, Đỗ Tuyết,
Nguyễn Xuân Khiển và nnk., 2005. Phát triển bền vững các vùng đá vôi ở Việt
9. Trần Văn Trị, Lê Đức An, Lại Huy Anh, Trần Đức Thạnh, Tony Waltham,
2003. Di sản thế giới Vịnh Hạ Long: Những
giá trị nổi bật về địa chất. TC Địa chất, A/277 : 6-20. Hà Nội.
10. Trịnh Dánh (Chủ biên), 2004. Báo cáo “Nghiên cứu các khu bảo tồn địa
chất ở Việt
11. UNESCO, 2007. Global geoparks network. Guidelines
and criteria for National Geoparrks seeking UNESCO’s assistance to join the Global
Geoparks Network.
12. Wolfgang Eder, 2004. The global
UNESCO network of geoparks. Proc. 1st Intern. Conf. on Geoparks,
pp. 1-3. Beijing, China.