KHẮC PHỤC
HẬU QUẢ CHIẾN TRANH HOÁ HỌC: MỘT NHIỆM VỤ KHÓ KHĂN VÀ LÂU DÀI
LÊ KẾ SƠN,
PHẠM HẠNH NGUYÊN
Văn phòng 33, Bộ Tài
nguyên và Môi trường, Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội.
Tóm tắt: Bài
viết giới thiệu tóm tắt về cuộc chiến tranh hóa học do quân đội Mỹ gây ra ở Việt
I. CUỘC CHIẾN TRANH HOÁ HỌC DO QUÂN ĐỘI MỸ GÂY
RA Ở
Năm 1959, Cơ quan nghiên cứu về chiến tranh của Hoa Kỳ
có trụ sở tại Fort Dietrict, bang Maryland, đã tổ chức diễn tập thành công việc
rải hỗn hợp các chất Butyleste, 2, 4 D và 2, 4, 5 T để phá huỷ mùa màng. Thành công
này nhanh chóng được Bộ Quốc phòng ghi nhận và bắt đầu xây dựng chương trình
rải các chất diệt cỏ và gây rụng lá tại chiến trường miền Nam Việt
Ngày 15/1/1961, sau khi nhậm chức Tổng thống, E. Kennedy
đã nhóm họp với Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ và tuyên bố: “...để ngăn chặn cộng
sản xâm lược miền Nam Việt Nam, tôi tuyên bố dùng chất diệt cỏ và các kỹ thuật
mới khác để kiểm soát các đường bộ và đường thuỷ dọc biên giới Việt Nam”. Ngay
sau đó các trang thiết bị và một khối lượng khổng lồ chất độc được chuyển vào
miền Nam Việt
Và gần 10 năm tiếp theo với ba đời Tổng thống Mỹ, quân
đội Mỹ đã rải xuống miền Nam Việt Nam khoảng 80 triệu lít chất độc hoá học, bao
gồm hơn 20 loại chất độc khác nhau, trong đó đa số là chất độc da cam, một hỗn hợp
của 2, 4D và 2, 4, 5T.
Chất diệt cỏ 2, 4, 5T là một hợp chất hữu cơ có chứa
chlor. Chất này không chỉ có trong chất độc da cam mà còn chứa trong các chất
độc khác (chất tím, chất xanh, ...). Do công nghệ sản xuất 2, 4, 5T, xuất hiện
một sản phẩm phụ là dioxin (2, 3, 7, 8 Tetra-Chloro-Dibenzo Dioxin – TCDD). Với
một lượng cực nhỏ cỡ một phần tỷ gam, dioxin đã có thể gây ung thư và tai biến
sinh sản ở động vật thực nghiệm. Các học giả Mỹ đưa ra số liệu khác nhau khi
ước tính lượng dioxin đã được rải xuống miền Nam Việt
Thế nhưng trước dư luận và trước toà án, người ta vẫn tránh
dùng các cụm từ chất độc hoá học hay chiến tranh hoá học. Họ chỉ thừa nhận là
đã dùng chất diệt cỏ và gây rụng lá như họ vẫn dùng ở các nơi khác. Cụm từ chất
độc hoá học và chiến tranh hóa học được coi là “nhạy cảm” vì liên quan đến các
công ty hoá chất đã sản xuất ra các chất độc này. Giải thích như thế là sai vì
hai lý do chính sau:
Thứ nhất, một khối lượng chất diệt cỏ và gây rụng lá đã
được sử dụng với liều quá nồng độ cho phép với mục đích diệt cỏ và gây rụng lá
(gấp 20 đến 30 lần nồng độ cho phép) và khi đó chất diệt cỏ và gây rụng lá đã
phá huỷ nặng nề hệ sinh thái và tác động đến sức khoẻ của con người. Một nguyên
lý cơ bản của độc học: chất gì cũng độc và chất gì cũng có thể không độc, vấn
đề là liều lượng. Quá liều lượng cho phép, chất không độc trở thành chất độc,
thậm chí rất độc.
Thứ hai, các chất diệt cỏ và làm rụng lá có chứa dioxin,
chất độc nhất trong các chất độc mà con người đã tìm ra. Các công ty đã sản
xuất chất diệt cỏ chứa dioxin phải chịu trách nhiệm về sản phẩm độc hại này.
Các nhà khoa học trên thế giới, trong đó có các nhà khoa học Mỹ, đã khẳng định
dioxin gây nên rất nhiều bệnh tật, đặc biệt là ung thư, tai biến sinh sản và dị
tật bẩm sinh. Cho đến nay người ta vẫn chưa tìm thấy những dấu hiệu mang tính
đặc trưng để phân biệt tác hại của dioxin với tác hại của một số yếu tố độc hại
có thể có trong môi trường. Lợi dụng điều này, một số người tìm cách bác bỏ các
bằng chứng khoa học về tác hại của chất độc hoá học có chứa dioxin ở Việt
Thực tiễn ở chính nước Mỹ đã mâu thuẫn với những phản bác
của các luật sư của các công ty hoá chất Mỹ và Toà án sơ thẩm Mỹ trong tháng
3/2005 vừa qua. Việc các công ty hoá chất Mỹ với sự dàn xếp của Toà án Mỹ đã
phải chấp nhận trợ cấp cho các cựu chiến binh Mỹ bị nhiễm chất độc hoá học 180
triệu USD để đổi lấy việc họ rút đơn kiện, đã gián tiếp thừa nhận tác hại của
chất độc hoá học đối với các cựu chiến binh này. Trước đây, tháng 2/1967, nhận
thấy sự nguy hại của chất độc hoá học có chứa dioxin, khoảng 5000 nhà khoa học
Mỹ, trong đó có 17 người được giải Nobel và 129 viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc
gia Hoa Kỳ đã yêu cầu Tổng thống Lyndon Johnson dừng ngay cuộc chiến tranh hoá
học nguy hại này.
II. HẬU QUẢ CHIẾN TRANH HOÁ HỌC VẪN CÒN KÉO DÀI HÀNG CHỤC NĂM
Theo thống kê chưa đầy đủ, có 25.585 thôn bản ở miền Nam
Việt
Tổng diện tích rừng bị rải chất độc hoá học là 3.104.000
ha (chiếm 17,8% diện tích rừng tự nhiên), trong đó có 2.954.000 ha rừng nội địa
(chiếm 95% và 5% còn lại là rừng ngập mặn). Khối lượng gỗ bị mất do sự huỷ hoại
của chất độc hoá học khoảng 82.830.000 m3 (tương đương 1 tỷ USD).
Tại các vùng bị rải chất độc hoá học, mặc dù nồng độ dioxin
đã giảm nhiều, nhưng hậu quả của nó vẫn còn rất rõ. Đất bị thoái hoá, các hệ
sinh thái bị phá huỷ, nhiều loài động vật và thực vật đã bị huỷ diệt, khả năng
phục hồi sinh thái kém, nhiều khu rừng mất khả năng phòng hộ đầu nguồn.
Tại một số vùng vốn là kho tàng, sân bay của quân đội Mỹ,
nồng độ dioxin cao và rất cao (thậm chí hàng trăm nghìn ppt, trong khi nồng độ
dioxin cho phép trong đất nông nghiệp Mỹ chỉ 1000 ppt). Nếu chúng ta tổ chức tẩy
độc ở một số sân bay được coi là điểm nóng hiện nay bằng phương pháp chôn lấp
cơ học kết hợp với phương pháp hóa sinh, dự tính kinh phí đã đến mức hàng trăm
tỷ đồng.
Do tính phức tạp của cơ chế gây bệnh và với điều kiện theo
dõi và chẩn đoán ở Việt
Điều đáng quan tâm nhất hiện nay là trẻ em bị dị tật bẩm
sinh do chất độc hoá học. Trong một công trình điều tra ở 174.198 nạn nhân chất
độc hoá học đã có đến 169.193 là thế hệ con (F1) và 5.505 thế hệ cháu (F2).
Liệu khoảng 20 năm nữa chúng ta có phát hiện thêm dị tật bẩm sinh ở thế hệ F3?
Điều đó rất có thể xảy ra khi mà hiện nay một số nhà khoa học đã phát hiện thấy
những biến đổi gien ở những nạn nhân chất độc hoá học. Vẫn có thể có tình trạng
thế hệ bố mẹ và con không có biểu hiện bệnh tật nhưng thế hệ cháu lại có thể
xuất hiện. Dị tật bẩm sinh ở nạn nhân chất độc hoá học thường đa dạng, đa dị
tật trên một cơ thể. Vì thế các nạn nhân này thường bị bênh rất nặng và là gánh
nặng về thể chất và tinh thần cho chính họ và xã hội.
Tổn thất do chiến tranh hoá học gây ra vô cùng to lớn xét
về nhiều phương diện. Hiện nay chúng ta chưa có được một công trình nghiên cứu
đủ lớn để xác định một cách toàn diện và chính xác tổn thất về kinh tế, xã hội,
môi trường và con người do cuộc chiến có một không hai trong lịch sử nhân loại
này gây nên.
III. KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH HOÁ HỌC - MỘT NHIỆM VỤ KHÓ KHĂN, LÂU DÀI VÀ PHỨC TẠP
Ngay từ những năm đầu của thập kỷ 70, GS. Tôn Thất Tùng
và một số nhà khoa học Việt
Tháng 10/1980, Chính phủ Việt
Để chuyển hướng cơ bản từ công tác điều tra sang công tác
khắc phục hậu quả chất độc hoá học, ngày 1/3/1999, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam
đã giải thể Uỷ ban 10-80 và ra Quyết định số 33/1999/QĐ-TTg thành lập Ban Chỉ
đạo Quốc gia Khắc phục hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh
ở Việt Nam (Ban Chỉ đạo 33). Trưởng Ban Chỉ đạo 33 là Bộ trưởng Bộ Khoa học,
Công nghệ và Môi trường. Tham gia Ban Chỉ đạo 33 có các lãnh đạo các Bộ Quốc
phòng, Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ, Bộ Y tế , Bộ Tư pháp, Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội,... Sau khi thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thủ
tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 173/2002/QĐ-TTg ngày 2/12/2003, giao cho Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường làm Trưởng Ban Chỉ đạo 33. Giúp việc cho Ban
Chỉ đạo 33 có Văn phòng Ban Chỉ đạo 33 đặt tại Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Ban Chỉ đạo 33 có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn và phối hợp
với các Bộ, ngành có liên quan tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khắc phục hậu quả
chiến tranh hoá học. Một loạt các hoạt động đã và đang được triển khai trên các
lĩnh vực nghiên cứu tẩy độc, phục hồi môi trường, xác định bệnh tật, đề xuất
các chế độ chính sách đối với nạn nhân chất độc hoá học,...
Tính đến nay, đã có hơn 209.000 nạn nhân chất độc hoá học
được hưởng chế độ trợ cấp theo Quyết định số 120/2004/QĐ-TTg đối với những người
tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị bệnh do chất độc hoá học và đã có
3.400 gia đình có từ 2 nạn nhân trở nên được hưởng chế độ theo quyết định số 16/2004/QĐ-TTg.
Song song với các trợ giúp của Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội, các
tổ chức từ thiện - nhân đạo,... đã có nhiều hoạt động tích cực giúp đỡ nạn
nhân, đặc biệt là các Quỹ Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam, Hội Nạn nhân chất
độc da cam/dioxin Việt Nam. Hàng trăm ngàn nạn nhân đã được chăm sóc sức khoẻ,
hỗ trợ cải thiện đời sống vật chất và tinh thần.
Tuy nhiên gánh nặng của hậu quả chiến tranh hoá học vẫn
còn ở phía trước. Các vùng còn ô nhiễm nặng chất độc hoá học cần được cô lập,
khu trú và tẩy độc. Cần tiến hành đồng bộ các giải pháp phục hồi môi trường
sinh thái và đảm bảo sức khoẻ và đời sống nhân dân tại các vùng bị rải chất độc
hoá học. Bên cạnh việc tổ chức điều hành tốt các trung tâm, các cơ sở điều
dưỡng nạn nhân chất độc hoá học, chú trọng hướng dẫn tổ chức phục hồi chức năng
cho nạn nhân tại cộng đồng và dựa vào cộng đồng, đặc biệt đối với gần hai trăm
nghìn trẻ em bị dị tật bẩm sinh. Từng bước hình thành các cơ sở tư vấn sinh sản
để hạn chế sinh ra những trẻ em bị dị tật,... Những công việc trên đây đòi hỏi
phải huy động một khối lượng lớn sức người và sức của trong một thời gian dài.
Nếu tính bằng tiền, công việc khắc phục hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng
trong chiến tranh ở Việt
VĂN LIỆU
1. Dai L.C., Thuy L.B.,
Quynh H.T., 1995. Remarks on the
dioxin level in human polled blood from various localities in
2. Dwernychuk L.W., 2005. Dioxin hot spots in
3. Hatfield Office 33, 2007. Assessment of dioxin contamination in the
environment and human population in the vicinity of Da
4. Hong P.N., 2004. The severe impact of herbicides on mangroves in Vietnam war and the
ecological effects of reforestation in ecological destruction, health, and development.
Furukawa H., Nishibuchi M. Editors.
5. Paepke O., Quynh H.T., Schecter A., 2004. Dioxin and related compounds in Vietnamese food and the environment: Potential relevance of hot spots from recent findings organohalogen compounds. 66 : 3702-3706.
6. Phuong N.T.N., Thuy T.T., Phuong P.K., 1989. An estimate of reprodictive abnormalities in woman
inhabiting herbicides sprayed and non-herbicides sprayed areas in the south of
7. Quang L.B., Hau D.H., Luong H.V., 2007. Study on diseases related to herbicides/dioxin on
Vietnamese veterans: Human and environmental impact of herbicides/dioxin in
8. Report of Ministry of
Labor, 2007. Invalids and social
welfare in
9. Schecter A., Paepke O.,
Cau H.D., Dai L.C., Phuong N.T.N., 1992.
Dioxin and dibenzofuran level in human blood samples from
10. Son L.K., 2004. Agent orange in the Vietnam war: Consequences and
measures for overcoming it. Furukawa H., Nishibuchi M.,
11. Stellman J., 2003. The extern and patterns of usage of agent orange and
other herbicides in
12. Westing A.H., 1984. Herbicides in the war: Past and present, the
long-term ecological and human consequences.