ĐẶC ĐIỂM CHU KỲ KIẾN TẠO INĐOSINI Ở MIỀN NAM VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN BÌNH

Viện Khoa học Vật liệu, Viện KH&CN VN, 18, Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội.

Tóm tắt: Chu kỳ Inđosini rất đặc sắc không chỉ ở Việt Nam, Đông Nam Á mà còn trên thế giới. Chu kỳ này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành khung kiến tạo lãnh thổ Việt Nam và vùng Đông Nam Á. Vào giai đoạn này, trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam đã phân định các đới cấu trúc: An Khê (Mang Yang), Đăk Lin - Bản Đôn, Phú Quốc, Hà Tiên, trũng molas lục nguyên chứa than Nông Sơn - An Điềm (Sông Bung). Chúng tạo nên bức tranh phối khảm của các khối nhô, cung núi lửa rìa lục địa tích cực và các trũng chồng gối Mesozoi hình thành trong các pha kiến tạo kiểu mạch đập.


I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Chu kỳ kiến tạo Inđosini đã được đề cập đến trong nhiều công trình [1, 7, 14, 16, 20, 23, 26, 27, 29, 39, 40]. Trong công trình này, chu kỳ này được mô tả không chỉ tập trung vào các pha uốn nếp, tạo núi của chu kỳ mà được hiểu rộng hơn theo cách hiểu của Wilson D.T., bao gồm các giai đoạn: nứt tách vỏ lục địa (rift hậu lục địa) → hình thành bồn đại dương trẻ → tách giãn, bồn đại dương trẻ mở rộng và phát triển thành đại dương trưởng thành → hút chìm, hình thành hệ cung đảo và rìa lục địa → thu hẹp đại dương dẫn đến xô đụng, đóng kín và mất hẳn đại dương (hệ xô đụng, bồi kết) → hình thành và mở rộng tạo núi lục địa [10, 11]. Một chu kỳ đầy đủ các giai đoạn như vậy không phải có ở mọi nơi, mọi lúc mà chu kỳ này có thể dừng lại ở bất cứ khâu nào hoặc có các chu kỳ địa phương không đầy đủ, ví dụ, chu kỳ Wilson có các phân nhánh sau: a) sự nứt tách vỏ lục địa có thể dừng lại, không đạt đến vỏ đại dương thực thụ, lúc này cấu trúc biến thành một rift cổ (paleorift), b) chu kỳ có thể dừng lại sau giai doạn đại dương trẻ (không hình thành đại dương trưởng thành và hút chìm), lúc này ta có một trục tách giãn địa phương… H. Stille (1945) lần đầu tiên lưu ý đến sự phát triển không đầy đủ của kiến sinh Kimmeri ở Đông Dương. Hoàng Cấp Thanh (1952, 1961) cũng có nhận xét về sự phát triển không đầy đủ của Hercynit ở duyên hải Đông Nam Trung Quốc. Trong [20], chu kỳ Inđosini ở miền Bắc Việt Nam được xem là một chu kỳ không đầy đủ theo khái niệm chu kỳ kiến tạo của Wilson (chu kỳ phát triển vỏ lục địa cổ thay thế chỗ cho vỏ đại dương). Chu kỳ uốn nếp Inđosini (Neotrias) theo J. Fromaget bắt đầu từ Antracolit giữa và kết thúc vào Creta (bao gồm bốn giai đoạn: Antracolit-Permi, cuối Permi - Carni, cuối Carni - Ret: trầm tích màu đỏ, nén ép, uốn nếp, tạo núi cực đại, cuối Ret - Creta: địa di, hình thành võng Sông Đà [7]). Trong chu kỳ Inđosini ở miền Bắc Việt Nam đã hình thành các đới cấu trúc tuyến tính (Sông Đà, An Châu, Sông Hiến, Sầm Nưa - Hoành Sơn), trũng molas lục nguyên chứa than Quảng Ninh (bao gồm các địa hào Hòn Gai và Bảo Đài - Yên Tử) và hàng loạt các trũng, chậu nhỏ chứa than khác. Trong khi ở miền Bắc Việt Nam trong chu kỳ Inđosini đã sản sinh hàng loạt các cấu trúc đặc sắc với bức tranh phối khảm xen kẽ của các trũng chồng gối và các khối nhô (cấu trúc dương) thì ở miền Nam Việt Nam chu kỳ kiến tạo Inđosini có các biểu hiện khác nhiều so với các biểu hiện của chu kỳ này ở miền Bắc. Các đặc điểm lý thú của chu kỳ kiến tạo Inđosini ở miền Nam Việt Nam là đối tượng nghiên cứu của công trình này.

II. BỐI CẢNH ĐỊA ĐỘNG LỰC MIỀN NAM VIỆT NAM TRONG PALEOZOI MUỘN - MESOZOI

Diện nghiên cứu trong công trình này là phần phía đông của địa khối trung tâm Inđosinia và phần Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ - sau đây gọi tắt là miền Nam Việt Nam (H. 1). Fromaget [7] xác định địa khối Inđosinia (địa khối trung tâm Đông Dương) vào các năm 1927, 1941, 1952 và cho rằng nó quyết định như một khung kiến tạo cứng rắn trong bình đồ "Neotrias" ở Đông Nam Á. Địa khối trung tâm Inđosinia đã hình thành theo phương thức bồi kết (tăng trưởng) vỏ lục địa quanh nhân cổ Kan Nack (nhân vỏ lục địa cổ Sông Ba) được giả định hình thành trong Arkei muộn [23]. Trong suốt thời gian từ khi hình thành đến Paleozoi giữa-muộn đã ghi nhận được các phức hệ vật chất - kiến trúc: nhân vi lục địa khởi thủy (NA), móng vỏ lục địa nguyên thuỷ Ngọc Linh - Chu Lai (PP - MP), móng kiểu vỏ lục địa thứ sinh (NP - e1).

Bình đồ cấu trúc Paleozoi miền Nam Việt Nam đã cố kết vào Paleozoi giữa-muộn tạo nên bộ khung kiến trúc cơ bản của khu vực. Đến đây, về cơ bản đã hoàn thành vỏ lục địa thứ sinh với sự có mặt của phức hệ vật chất - kiến trúc sinh núi với các biểu hiện của granitoiđ đồng va chạm: phức hệ Đại Lộc. Vào cuối Paleozoi, tại khu vực này tồn tại một mặt chế độ kiến tạo kiểu nền - san bằng kiến tạo. Kiến sinh Inđosini phát triển chính trên móng phá huỷ của các cấu trúc Paleozoiđ này.

Ở miền Nam Việt Nam trong chu kỳ Inđosini đã ghi nhận sự có mặt của các thành tạo địa chất sau:

1. Trầm tích lục nguyên silic - carbonat - phun trào trung tính (anđesitobazan, anđesit, anđesito-đacit, đacit...); hệ tầng Đăk Lin (C3-P1 dl) và một số đảo ở Tây Nam Bộ thuộc loạt tholeiit cao sắt (SFe: 5,41 - 10,47 %), thấp kiềm (Na2O: 4,1 %; K2O/Na2O = 0,17 - 0,63), thấp kali (K2O = 1,96 %) [15, 31], pha phun trào đầu tiên.

Thành tạo này mang tính chất của bồn cung núi lửa thuộc ven rìa lục địa và có thể là di chỉ của PaleoTethys (rìa đông). Pha sụt lún, tách giãn không thấy rõ ở đây, chúng có thể biểu hiện ở bên ngoài miền Nam Việt Nam.

2. Granitoiđ, phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn loạt vôi, vôi-kiềm (tổ hợp điorit-granođiorit-granit) [5].

3. Trầm tích đá vôi: các hệ tầng Hà Tiên (P1-2 ht),  Hớn Quản (P3 hq), Minh Hoà (T2a mh) [31].

4. Trầm tích lục nguyên, lục nguyên - phun trào trung tính - axit, các hệ tầng Tà Nốt (P3 tn), Đất Đỏ (P3 dt), Hòn Đước (T1 hd) Chư Prông (P3-T1 cp), Sông Sài Gòn (T1 sg), Mang Yang (Măng Giang – T2a mg), Châu Thới (T2 act), Hòn Ngang (T2a hn) [21, 22, 31, 42].

5. Tổ hợp granit, granosyenit, granit granophyr, phức hệ Vân Canh.

6. Tổ hợp gabbro-pyroxenit, periđotit, đunit phức hệ Chà Vằn (Chà Val: các khối Phú Lộc, Khe Dung, Chơ Rông, Bạch Mã...) [5].

7. Granit, granit cao nhôm: các phức hệ Hải Vân, Bà Nà (245-249 Tr.n. [17, 18]).

8. Các đá lamprophyr (mafic siêu kiềm - minet) có mặt ở Đắc Ripen, Đắc Long, Kon Fam (Kon Tum) dọc đứt gãy Pô Cô (246-228 Tr.n. [38]. Ngoài ra các đá lamprophyr còn được mô tả ở Măng Xim?, Nam Đắc Tô, Ba Bích, Ba Trang (Quảng Ngãi), An Quang (Bình Định).


Hình 1. Sơ đồ kiến tạo miền Nam Việt Nam.

Chú giải:

1. Đới Kareli - Kan Nack

2. Đới Baikali - Ngọc Linh

3. Đới Đà Nẵng

4. Đới Sê Kông

5. Đới Đaklin

6. Đới Bản Đôn - Srêpôk

7. Đới An Khê (trũng chồng gối MZ)

8. Đới Hà Tiên

9. Đới Nông Sơn - An Điềm (trũng graben)

10. Đới Đà Lạt

11. Đới Phú Quốc

12. Trũng Cửu Long (trũng chồng gối KZ)

13. Trũng Sông Ba (trũng chồng gối KZ)


Quá trình uốn nếp - nghịch đảo khép kín các đới cấu trúc sinh vào giai đoạn này đã xảy ra một cách mạnh mẽ vào Trias giữa được minh chứng bằng sự xuất hiện các thành tạo gabbro-pyroxenit, periđotit, đunit thuộc phức hệ Chà Vằn, granitoiđ tạo núi, các phức hệ Hải Vân, Bà Nà. Ở đây có thể thấy sự vắng mặt của hệ bồi kết, không có tãch giãn, hút chìm mà chuyển ngay sang xô đụng, đóng kín đới cấu trúc. Các quá trình này xảy ra trên bối cảnh hút chìm của PaleoTethys cắm dưới địa khối Đông Dương (Inđosinia) và tiếp theo là va chạm gắn kết các khối Shan-Thái (Sibumasu) - Việt Trung - Đông Dương. 

9. Trầm tích lục địa vụn thô màu đỏ chứa than, loạt Nông Sơn (các hệ tầng An Điềm - T3n ad, Sườn Giữa - T3r sg) [31, 42].

10. Trầm tích vụn thô màu đỏ (molas lục địa): các hệ tầng: Hữu Chánh (J2 hc), A Ngo (J1-2 ng), Bình Sơn (J1-2 bs), Pa (J1-2 tp), Ea Súp (J2 sp) [31, 42].

Trong Nori-Ret và Jura sớm-giữa ở Nam Việt Nam nói riêng, và trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung, đã hình thành các cấu trúc dạng địa hào hẹp, trũng giữa núi, bồn nội lục, chậu nhỏ chứa các trầm tích chủ yếu là lục nguyên phân nhịp chứa than (các hệ tầng Hòn Gai, Văn Lãng, Suối Bàng, Đồng Đỏ ở miền Bắc Việt Nam và loạt Nông Sơn ở miền Nam). Các trầm tích này có tướng biển và lục địa xen kẽ (bao gồm các tướng biển nông, á lục địa, biển ven, vũng vịnh, đầm hồ …). Các thành tạo kể trên có nguồn gốc vỏ và được hình thành trong bối cảnh tạo núi và chuyển động dạng vòm khối tảng. Các trầm tích molas chứa than Nori-Ret và Jura sớm-giữa phủ bất chỉnh hợp lên toàn bộ các cấu trúc Paleozoi muộn - Mesozoi sớm (Sông Đà, Sông Hiến, An Châu, Sầm Nưa - Hoành Sơn, An Khê (Mang Yang), Đà Lạt, Đăk Lin - Bản Đôn) và móng Peleozoiđ lân cận. Đây cũng chính là một trong những pha kiến tạo kịch phát - pha nghịch đảo kiến tạo quan trọng của Việt Nam, Đông Nam Á và cả châu Á. Giai đoạn T3n-r - J2 thể hiện tính đồng nhất gần như trên toàn lãnh thổ Việt Nam, bắt đầu bằng trầm tích lục nguyên chứa than rồi chuyển lên trầm tích vụn thô lục địa màu đỏ. Giai đoạn này là giai đoạn có gián đoạn trầm tích cục bộ và là giai đoạn phi magma trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Chuyển động tạo núi Inđosini diễn ra mãnh liệt từ Permi muộn dẫn đến việc triệt tiêu PaleoTethys, hình thành các địa khu liên hợp Việt-Trung, Đông Dương, Shan-Thái [39, 41]. Có thể nói rằng chuyển động Inđosini đóng vai trò quyết định trong viếc hình thành các cấu trúc Paleozoiđ muộn - Mesozoiđ sớm ở Việt Nam

Vào cuối Jura - đầu Creta, ở phần đông nam của Việt Nam phát triển các thành tạo (các phức hệ vật chất - kiến trúc) liên quan với hút chìm [3, 4, 15, 41, 44]) dưới đây:

1. Trầm tích lục nguyên, lục nguyên - phun trào trung tính - axit (anđesitobazan, anđesit, anđesitođacit, đacit, ryolit, felsit và tuf của chúng) hệ tầng Đèo Bảo Lộc (J3 đl, phun trào kiềm vôi, cao kali) [21, 22, 31, 42].

2. Thành tạo xâm nhập gabbro, gabbro-pyroxenit, gabbro-norit phức hệ Tây Ninh [22].

3. Thành tạo  magma xâm nhập điorit-granodiorit-tonalit-granit phức hệ Định Quán (loạt vôi-kiềm, cao kali) [5, 6, 8].

Các thành tạo này đặc trưng cho bối cảnh rìa lục địa tích cực phát triển trong quá trình hút chìm của Tây Thái Bình Dương vào Đông Á [3, 4, 15, 41, 44]. Theo một quan điểm khác [2] thì các thành tạo phân dị dài điorit-granođiorit-granit (từ gabbro-điorit tới granit) thuộc loạt vôi-kiềm với K > Na (kiểu Định Quán) và granit-leucogranit đặc trưng cho chế độ tạo núi (cứng rắn hóa đầy đủ vỏ lục địa). Giai đoạn từ Creta giữa-muộn trở về sau được xem là giai đoạn hoạt hóa nội lục.

III. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BIỂU HIỆN CỦA CHU KỲ INĐOSINI Ở MIỀN NAM VIỆT NAM

Chu kỳ Inđosini diễn ra vào giai đoạn mà ở quy mô toàn cầu là giai đoạn có nhiều biến cố địa chất lớn: dập vỡ đại lục Pangea II, đóng kín đại dương Paleozoi (PaleoTethys), mở ra các đại dương mới (MesoTethys), sự thay đổi đột ngột tiến trình phát triển thế giới cổ sinh vật vào ranh giới Permi-Trias ...

Một số đặc điểm biểu hiện của chu kỳ Inđosini ở miền Nam Việt Nam như sau:

- Chu kỳ Inđosini không bắt đầu xảy ra cùng một lúc trên các khu vực khác nhau của miền Nam Việt Nam nói riêng, và toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung, song có những biểu hiện của các quá trình tạo núi, hoạt động magma và biến chất diễn ra mạnh mẽ nhất trong khoảng Permi muộn - Trias giữa và đặc trưng bằng các hoạt động biến dạng, trượt cắt ngang, uốn nếp, nghịch đảo mạnh mẽ vào cuối Carni (điều này thể hiện rõ hơn ở miền Bắc Việt Nam). Chu kỳ Inđosini trên toàn bộ diện tích lãnh thổ Việt Nam được xem là một chu kỳ không đầy đủ theo khái niệm chu kỳ kiến tạo của Wilson (chu kỳ phát triển vỏ lục địa cổ thay thế chỗ cho vỏ đại dương).

- Bối cảnh kiến tạo cung đảo núi lửa kiểu rìa lục địa tích cực Paleozoi muộn hình thành do sự hút chìm của PaleoTethys ở rìa tây nam Inđosinia mà hiện tại còn lộ ra một số tổ hợp anđesitobazan loạt vôi-kiềm, flysh, turbiđit ở Đăk Lin, Tây Nam Bộ [21, 22, 41].

- Ở miền Nam Việt Nam, trong chu kỳ Inđosini có hoạt động tái nóng chảy (các khối magma Đại Lộc… ), các hoạt động biến chất nhiệt độ cao đến siêu cao, biến chất áp suất cao xảy ra trên nền khối nhô Kon Tum đã cứng rắn hóa đi kèm với các pha nhiệt kiến tạo [11-13, 24, 25, 28, 32-34, 45-47], chúng có thể là kết quả của các biến cố va chạm lục địa vào Permi - Trias (Shan-Thái - Inđosinia - Việt -Trung) với các biểu hiện:

a) Granulit mafic trong đá gneis mylonit hóa loạt Ngọc Linh vùng Đắc Tô Kan (T = 820-10500 C, P = 28 kbar, tuổi: 250-260 Tr.n.).

b) Granulit pelit loạt Kan Nack vùng Sông Ba (T = 900-10500C, tuổi: 240-250 Tr.n.).

c) Gneis hệ tầng Khâm Đức (T = 7400C; P = 8 kbar; T = 6400C; P = 12 kbar).

d) Charnockit loạt Kan Nack (T = 700 -11500C; P = 3,4 - 5,7 kbar, tuổi: 240-260 Tr.n.).

e) Gneis pelit Pô Kô phức hệ Ngọc Linh (tuổi 229 Tr.n.).

g) Granulit eclogit basic Sông Ba (245-250 Tr.n.).

Các biểu hiện biến chất tương tự cũng xảy ra tại Sông Mã (243 Tr.n.), Đại Lộc - Khe Sanh (244 Tr.n.) [12, 13]. Các hoạt động magma và biến chất này xảy ra trong cùng khoảng thời gian 260-210 Tr.n..

- Trong khi ở các đới cấu trúc Inđôsiniđ miền Bắc Việt Nam ở bậc cao hơn phổ biến các cấu trúc dạng tuyến hẹp, không liên tục, nhiều gián đoạn cục bộ, các cấu tạo vảy phủ chờm, các đới tách giãn dạng cánh gà, các uốn nếp ngắn, cụt, đoản, đôi khi dốc đứng, thì ở Nam Việt Nam các biểu hiện dạng này yếu hơn nhiều.

+ Trong chu kỳ Inđosini ở miền Nam Việt Nam tồn tại các đới trượt bằng, các đới biến dạng dẻo (tuổi 217-255 Tr.n., ghi nhận được ở Kan Nack, Quảng Ngãi, Kon Tum, M’Đrắc, Đại Lộc [22]), các đới trượt cắt (do kết quả của quá trình xô đụng: Thà Khẹt - Đà Nẵng, Đà Nẵng - Khe Sanh, Tam Kỳ - Hiệp Đức, Trà Bồng - Hưng Nhượng, Pô Cô…) [11, 28, 35, 47].

+ Trong Trias ở miền Bắc Việt Nam phổ biến các thành tạo carbonat tướng biển nông đến trung bình (các hệ tầng Hồng Ngài, Điềm He, Đồng Giao, Pác Ma, Hoàng Mai), cũng vào thời gian này ở miền Nam Việt Nam hoàn toàn vắng mặt các thành tạo carbonat (ngoại trừ một diện tích nhỏ ở bờ bắc đảo Hòn Nghệ).

+ Các biểu hiện của hoạt động magma granitoiđ khá phổ biến và phong phú vào chu kỳ Inđôsini với sự biểu hiện của các phức hệ Điện Biên, Núi Điệng, Sông Mã, Móng Cái, Kim Bôi, Phia Bióc, Bến Giằng - Quế Sơn, Hải Vân, Bà Nà, Vân Canh.

- Chu kỳ Inđôsini ở miền Nam Việt Nam có thể được phân định 3 pha chính: C3-P2, P3-T3c, T3n-r - J2 thể hiện rõ các phức hệ vật chất - kiến trúc nêu trên. Tiếp theo là hoạt động của rìa lục địa tích cực trong môi trường hút chìm của mảng Thái Bình Dương ở phía đông hiện tại xuống dưới mảng Châu Á diễn ra muộn hơn (đặc biệt rõ ở đới cấu trúc Đà Lạt). Một số tác giả còn tính đến tác động của quá trình hút chìm mảng Ấn Độ Dương dưới lục địa Âu - Á [4], theo chúng tôi có lẽ ảnh hưởng này xảy ra vào thời gian muộn hơn.

- Các đới cấu trúc chính hình thành trong chu kỳ Inđosini ở lãnh thổ Việt Nam là: Sông Đà, Sông Hiến, An Châu, Sầm Nưa - Hoành Sơn, An Khê (Mang Yang), Đăk Lin - Bản Đôn, Phú Quốc, Hà Tiên, Nông Sơn - An Điềm (Sông Bung).

- Các khoáng sản chính của chu kỳ Inđosini ở miền Nam Việt Nam [3, 15, 19, 29, 36, 37]:

+ Chì-kẽm: Gia Bạc, Núi Dinh;

+ Vàng (thạch anh - vàng, thạch anh - sulfur - vàng, có nơi liên quan với phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn… ): Khe Rin, Đắc Ri Pen, Đắc Krông, Bãi Đất, Ngọc Tụ, Bãi Gió, Sa Bình, Tiên Thuận, Phước Hiệp, Tiên Hà, Hiệp Thuận, Thăng Phước, Đắc Sa, Suối Ty, Suối Nho, Suối Linh, Trà Năng…;

+ Fluorit (liên quan với granit phức hệ Vân Canh): Xuân Lãnh;

+ Molybđen - đồng: Sa Thầy?, Núi Đất?.

IV. KẾT LUẬN

Giai đoạn Paleozoi muộn - Mesozoi là một trong những giai đoạn đặc biệt trong tiến trình lịch sử địa chất của Việt Nam, đặc biệt phong phú và đa dạng về mặt kiến tạo và khoáng sản. Chu kỳ Inđosini có đặc điểm kiến tạo đặc sắc không chỉ ở Việt Nam, Đông Nam Á mà còn trên thế giới. Trên nền cấu trúc tương phản bình ổn vào cuối Paleozoi của miền Nam Việt Nam, chu kỳ Inđosini khởi đầu bằng nứt tách, sụt lún, sau đó nhanh chóng chuyển sang nén ép, nâng nghịch đảo mạnh, khép kín các đới cấu trúc. Sau sụt lún cục bộ tạo các địa hào, trũng giữa núi, chậu chứa than, toàn miền bước vào giai đoạn tạo núi muộn, hoàn chỉnh vỏ lục địa với sự có mặt của các thành tạo nguồn gốc vỏ. Kết quả của các hoạt động biến cải phân dị mạnh mẽ đã tạo ra các trũng chồng gối điển hình – trũng kiểu nguồn rift nội lục trên nền các móng cấu trúc không đồng nhất (đa kỳ, đa nguồn gốc…). Chúng tạo nên bức tranh phối khảm của các khối nhô, đai núi lửa rìa lục địa tích cực của Paleozoi muộn và các trũng chồng gối Mesozoi hình thành trong các pha kiến tạo kiểu mạch đập (có sự luân phiên giữa các chế độ nén ép và tách giãn, sự luân phiên các cấu trúc âm và các cấu trúc dương). Một số tác giả xem đây là giai đoạn hoạt hóa magma - kiến tạo của lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt phong phú và đa dạng về mặt khoáng sản.

Công trình này có sự hỗ trợ đề tài NCCB mã số 7.177.06 của Bộ Khoa học và Công nghệ.

VĂN LIỆU

1. Belov A.A., Yu.G. Gatinsky, A.A. Mosakovsky, 1985. Các Inđosiniđ Âu-Á. Geotektoniks, 6 : 21-42 (tiếng Nga).

2. Bogatikov O.A., A.M. Borsuk, V.A. Kononova, V.A. Pavlov, A.K. Simon, 1987. Các thành hệ magma: Chỉ thị cho sự tiến hóa của thạch quyển. Tin tức Viện HLKH Liên Xô, Loạt ĐC, 8 : 3-13 (tiếng Nga).

 

3. Bùi Minh Tâm, Đặng Văn Can, Trương Minh Toản, Trịnh Xuân Hoà, 2005. Hoạt động magma Meso-Cenozoi và khoáng sản liên quan ở đới Đà Lạt. Địa chất và Khoáng sản, 9 : 140-148. Viện NC Địa chất và Khoáng sản. Hà Nội.

4. Bùi Minh Tâm, Lê Duy Bách, Trịnh Xuân Hòa, 2006. Nguồn gốc các thành tạo granitoid đới Đà Lạt theo đặc điểm địa hóa đồng vị. TC Các KH về TĐ, 2 : 233-240. Hà Nội.

5. Đào Đình Thục, Huỳnh Trung (Đồng chủ biên), 1995. Địa chất Việt Nam. Tập 2: Các thành tạo magma. Cục Địa chất VN, Hà Nội, 359 tr.

6. Đỗ Đình Toát, Lê Thanh Mẽ, 2002. Đặc điểm các hoạt động magma Mesozoi-Kainozoi khu vực Trung Trung Bộ và mối liên quan của chúng với kiến tạo mảng. TC Địa chất, A/272 : 11-19. Hà Nội.

7. Fromaget J., 1941. L’Indochine française, sa structure géologique, ses roches, ses mines et leurs relations possibles avec la tectonique. Bull. SGI, XXVI/2, Hanoi, 140 p..

8. Huỳnh Trung, Nguyễn Xuân Bao, 1991. Magma xâm nhập đới Đà Lạt. Địa chất và nguyên liệu khoáng, 1 : 15-41. Liên đoàn ĐC 6, TP HCM.

9. Khain V.E., 1992. Các chu kỳ Wilson và Bertrand. Báo cáo Viện HLKH Liên Xô, 325/3 : 557-559 (tiếng Nga).

10. Khain V.E., 2000. Tính chu kỳ quy mô lớn trong lịch sử kiến tạo Trái đất và các nguyên nhân có thể của nó. Geotektoniks, 6 : 3-14 (tiếng Nga).

11. C. Lepvier, Nguyen Van Vuong, H. Maluski, Phan Truong Thi, Vu Van Tich, 2008. Indosinian tectonics in Vietnam. C.R. Geoscience, 340 : 94-111.

12. Maluski H., C. Lepvrier, Phan Trường Thị, Nguyễn Văn Vượng, 1999. Early Mesozoic to Cenozoic evolution of orogeny in Viet Nam: An Ar-Ar dating synthesis. J. of Geology, B/13 : 81-86. Hà Nội.

13. Miyamoto T., Y. Osanai, N. Nakano, M. Owada, Nguyễn Thị Minh, Dương Đức Kiêm, Trần Ngọc Nam, 2006. Kết quả bước đầu về tuổi Rb-Sr, Sm-Nd và thành phần đồng vị của pelit vùng Pô Kô và eclogit vùng Điện Biên. TC Địa chất, A/5-6 : 38-45. Hà Nội.

14. Nguyễn Đình Uy, Trần Văn Trị, Hoàng Hữu Quý, Lâm Thanh, Lê Văn Đệ, Đàm Ngọc, Nguyễn Văn Tâm, 1985. Một số nét cơ bản về kiến tạo miền Nam Việt Nam. Địa chất và Khoáng sản, 2 : 60-68. Viện ĐC&KS, Hà Nội.

15. Nguyễn Kinh Quốc, 1990. Các thành tạo núi lửa Paleozoi muộn - Mesozoi và khoáng sản liên quan ở rìa nam khối nâng Kon Tum. Địa chất và khoáng sản, 3 : 123-135. Viện ĐC&KS, Hà Nội.

16. Nguyễn Nghiêm Minh, Phan Văn Quýnh, Vũ Ngọc Hải, Nguyễn Huy Sính, 1985. Kiến sinh vỏ lục địa và sinh khoáng lãnh thổ Viêt Nam. Địa chất và khoáng sản. 2 : 116-127.  Viện ĐC&KS, Hà Nội.

17. Nguyễn Trung Minh, 2005. Xác định tuổi thành tạo khối Bà Nà tương ứng với pha kiến tạo Inđosini bằng phương pháp đồng vị U-Pb. TC Địa chất, A/287 : 20-25. Hà Nội.

18. Nguyễn Trung Minh, 2005. Một số kết quả mới về địa hoá đồng vị của khối granit Bà Nà và luận giải. Tt báo cáo HNKH 60 năm Địa chất VN, tr. 126-132. Hà Nội.

19. Nguyễn Văn Bình, Vũ Minh Quân, Phạm Văn Trường, 2000. Một số nét đặc trưng sinh khoáng khối nhố Kon Tum. HNKH Trường ĐH MĐC lần thứ 14, : 189-194. Hà Nội.

20. Nguyễn Văn Bình, 2005. Về chu kỳ kiến tạo Inđosini ở miền Bắc Việt Nam. TC Địa chất, A/291 : 21-26. Hà Nội.

21. Nguyễn Xuân Bao, Vũ Như Hùng, Trịnh Long, 2000. Hiệu chỉnh tuổi một số phân vị địa tầng Mesozoi ở Nam Việt Nam. Địa chất, tài nguyên và môi trường NVN, tr. 16-19. Liên đoàn BĐ ĐC Miền Nam, Tp Hồ Chí Minh.

22. Nguyễn Xuân Bao (Chủ biên), 2001. Kiến tạo và sinh khoáng miền Nam Việt Nam. Lưu trữ Cục ĐC&KS VN, Hà Nội.

23. Nguyễn Xuân Tùng, Trần Văn Trị (Đồng chủ biên), 1992. Thành hệ địa chất và địa động lực Việt Nam. Nxb. KH&KT, Hà Nội, 274 tr.

24. Osanai Y., N. Nakano, M. Owada, Phạm Bình, Trần Ngọc Nam, Dương Đức Kiêm, Trần Văn Trị, 2005. Một số phát hiện gần đây về quá trình biến chất của địa khối Kon Tum, Trung Bộ Việt Nam. Địa chất và Khoáng sản, 9 : 171-186. Viện NC ĐC&KS. Hà Nội.

25. Osanai Y., N. Nakano, M. Owada, Trần Ngọc Nam, Phạm Bình, T. Miyamoto, S. Baba, T. Kawkami, T. Toyoshima, Nguyễn Trung Minh, Trần Văn Trị, 2007. Lower crustal processes of Trans-Vietnam orogenic belt and its northern extension: Evidences for Permo-Triassic collision metarmorphism in Eastern Asia. 4th Intern. Symp. on Gondwana to Asia and 2007 IAGR annual convention. Abstract volume.

26. Phạm Văn Quang, 1985. Khối trung tâm Inđosini. TC Địa chất, 169 : 1-8. Hà Nội.

27. Phan Trường Thị, 1995. Địa khối Inđosini trong chuyển động Inđosini ở Đông Dương và biển Đông trong đại Tân sinh. BC HNKH ĐCVN lần thứ III, tr. 121-131. Hà Nội.

28. Phan Trường Thị, 1997. Hoạt động biến chất và quá trình tạo núi Trường Sơn. TC Các KH về TĐ, 3 :169-178. Hà Nội.

29. Phan Văn Quýnh, Vũ Ngọc Hải, Nguyến Nghiêm Minh, Võ Năng Lạc, Văn Đức Chương, 1986. Tiến hoá vỏ lục địa Việt Nam và sinh khoáng. TC Các KH về TĐ, 6 : 97-103. Hà Nội.

30. Roger F., H. Maluski, A. Leloup, C. Lepvier, Phan Truong Thi, 2007. U-Pb dating of high temperature metamormorphic episodes in the Kon Tum Massif (Vietnam). J. of Asian Earth Sci., 30 : 565-572.

31. Tống Duy Thanh, Vũ Khúc (Đồng chủ biên), 2005. Các phân vị địa tầng Việt Nam. Nxb ĐHQG, Hà Nội, 504 tr..

32. Trần Ngọc Nam, 2001. Tuổi granulit phức hệ Kan Nack kết quả từ SHRIMP U-Pb zircon. TC Các KH về TĐ, 1 : 16-21. Hà Nội.

33. Trần Ngọc Nam, Y. Osanai, N. Nakano, Hoàng Hoa Thám, 2004. Biến chất nhiệt độ siêu cao Permi-Trias va chạm lục địa ở địa khối Kon Tum. TC Địa chất, A/285 : 1-8. Hà Nội.

34. Trần Ngọc Nam, Y. Osanai, N. Nakano, 2005. Hoạt động biến chất áp suất cao ở địa khối KonTum và ý nghĩa địa động lực. Tt báo cáo HNKH 60 năm Địa chất VN, tr. 133-139. Hà Nội.

35. Trần Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Thủy, Trần Ngọc Nam, 2006. Bước đầu định lượng độ biến dạng và biên độ dịch chuyển của đới cắt trượt Đà Nẵng - An Điềm bằng phương pháp bề dày các lớp mylonit. TC Địa chất, A/296 : 46-53. Hà Nội.

36. Trần Trọng Hoà, Trần Tuấn Anh, Ngô Thị Phượng, Phạm Thị Dung, Trần Việt Anh, 2005. Hoạt động magma Permi-Trias lãnh thổ Việt Nam và triển vọng kim loại quý hiếm (Pt, Au) liên quan. Tt báo cáo HNKH 60 năm ĐCVN, tr. 63-79. Hà Nội.

37. Trần Trọng Hoà, A.S. Borisenko, Ngô Thị Phượng, A.E. Izokh, Vũ Văn Vấn, Bùi Ái Niên, Trần Tuấn Anh, Phạm Thị Dung, 2006. Đặc điểm địa hóa đồng vị của quặng hóa vàng Mesozoi sớm và Mesozoi muộn trong mối liên quan với hoạt động magma khu vực rìa ĐN địa khối Đông Dương. TC Địa chất, A/295 : 15-24. Hà Nội.

38. Trần Tuấn Anh, Trần Trọng Hòa, A.E. Izokh, A.S. Borisenko, A.V. Travin, 2006. Age constraints on the petrogenesis of lamprophyr from South Central Việt Nam. J. of Geology, B/27 : 23-29. Hà Nội.

39. Trần Văn Trị, 1987. Tectonic evolution of the Inđosinian epoch of Vietnam and neighbouring regions. Pre-Jurassic evol. of E Asia. IGCP Proj. 224, 2 : 67-74. Osaka.

40. Trần Văn Trị (Chủ biên), 2000. Tài nguyên khoáng sản Việt Nam. Cục ĐC và KS VN, Hà Nội, 214 tr..

41. Trần Văn Trị, Tống Duy Thanh, Vũ Khúc, 2005. Các bồn trầm tích trong tiến hoá địa chất ở Việt Nam. Trong Tống Duy Thanh, Vũ Khúc, 2005: Các phân vị địa tầng Việt Nam, tr. 1-22. Nxb ĐHQG Hà Nội.

42. Vũ Khúc, Bùi Phú Mỹ (Đồng chủ biên), 1988. Địa chất Việt Nam. Tập 1: Địa tầng. TCục MĐC, Hà Nội, 379 tr..

43. Vũ Khúc, Đặng Trần Huyên, Nguyễn Đình Hữu, 2005. Các thành tựu và tồn tại trong nghiên cứu địa tầng Mesozoi trong những năm gần đây (1998-2005). Tt báo cáo HNKH 60 năm ĐCVN, tr. 101-111. Cục ĐC&KS VN, Hà Nội.

44. Vũ Như Hùng, Trịnh Văn Long, Huỳnh Thị Minh Hằng, 2000. Đặc điểm các thành tạo magma cung rìa lục địa tích cực Mesozoi muộn đới Đà Lạt. Địa chất, tài nguyên và môi trường NVN, tr. 31-43. Liên đoàn BĐĐC Miền Nam, Tp. HCM.

45. Vũ Văn Tích, 2006. Tiến hóa biến chất của granulit phức hệ Kan Nack và quá trình tạo núi Inđosini. TC Các KH về TĐ, 28/2 : 241-252. Hà Nội.

46. Vũ Văn Tích, Nguyễn Thị Thủy, 2006. Charnockit nhiệt độ siêu cao ở địa khối Kon Tum và ý nghĩa địa động lực trong quá trình tạo núi Inđosini. TC Địa chất, A/296 : 8-15. Hà Nội.

47. Vũ Văn Tích, Hoàng Thị Thụy, 2007. Tuổi đồng vị Ar-Ar của granitoiđ và pegmatit trong đới trượt cắt Trà Bồng - Hưng Nhượng và ý nghĩa của nó trong luận giải nhiệt kiến tạo khu vực. TC Địa chất, A/300 : 57-63. Hà Nội.