ĐẶC ĐIỂM CHU KỲ
KIẾN TẠO INĐOSINI Ở MIỀN
NGUYỄN
VĂN BÌNH
Viện Khoa học Vật
liệu, Viện KH&CN VN, 18, Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội.
Tóm tắt:
Chu kỳ Inđosini rất đặc sắc không chỉ ở Việt
II.
BỐI CẢNH ĐỊA ĐỘNG LỰC MIỀN
Diện nghiên cứu trong công
trình này là phần phía đông của địa khối trung tâm Inđosinia và phần Trung
Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ - sau đây gọi tắt là miền Nam Việt Nam (H. 1).
Fromaget [7] xác định địa khối Inđosinia (địa khối trung tâm Đông Dương) vào
các năm 1927, 1941, 1952 và cho rằng nó quyết định như một khung kiến tạo cứng
rắn trong bình đồ "Neotrias" ở Đông Nam Á. Địa khối trung tâm
Inđosinia đã hình thành theo phương thức bồi kết (tăng trưởng) vỏ lục địa quanh
nhân cổ Kan Nack (nhân vỏ lục địa cổ Sông Ba) được giả định hình thành trong
Arkei muộn [23]. Trong suốt thời gian từ khi hình thành đến Paleozoi giữa-muộn
đã ghi nhận được các phức hệ vật chất - kiến trúc: nhân vi lục địa khởi thủy
(NA), móng vỏ lục địa nguyên thuỷ Ngọc Linh - Chu Lai (PP - MP), móng kiểu vỏ
lục địa thứ sinh (NP - e1).
Bình đồ cấu trúc Paleozoi
miền Nam Việt
Ở miền Nam Việt
1. Trầm tích lục nguyên
silic - carbonat - phun trào trung tính (anđesitobazan, anđesit,
anđesito-đacit, đacit...); hệ tầng Đăk Lin (C3-P1 dl)
và một số đảo ở Tây Nam Bộ thuộc loạt tholeiit cao sắt (SFe: 5,41 - 10,47 %), thấp kiềm (Na2O: 4,1 %; K2O/Na2O
= 0,17 - 0,63), thấp kali (K2O = 1,96 %) [15, 31], pha phun trào đầu
tiên.
Thành tạo này mang tính
chất của bồn cung núi lửa thuộc ven rìa lục địa và có thể là di chỉ của
PaleoTethys (rìa đông). Pha sụt lún, tách giãn không thấy rõ ở đây, chúng có
thể biểu hiện ở bên ngoài miền Nam Việt
2. Granitoiđ, phức hệ Bến
Giằng - Quế Sơn loạt vôi, vôi-kiềm (tổ hợp điorit-granođiorit-granit) [5].
3. Trầm tích đá vôi: các hệ
tầng Hà Tiên (P1-2 ht), Hớn Quản (P3 hq), Minh Hoà (T2a mh)
[31].
4. Trầm tích lục nguyên,
lục nguyên - phun trào trung tính - axit, các hệ tầng Tà Nốt (P3 tn), Đất Đỏ (P3 dt), Hòn Đước (T1 hd) Chư Prông (P3-T1 cp), Sông Sài Gòn (T1 sg), Mang Yang (Măng Giang – T2a
mg), Châu Thới (T2 act), Hòn Ngang (T2a hn) [21, 22, 31, 42].
5. Tổ hợp granit,
granosyenit, granit granophyr, phức hệ Vân Canh.
6. Tổ hợp gabbro-pyroxenit,
periđotit, đunit phức hệ Chà Vằn (Chà Val: các khối Phú Lộc, Khe Dung, Chơ
Rông, Bạch Mã...) [5].
7. Granit, granit cao nhôm:
các phức hệ Hải Vân, Bà Nà (245-249 Tr.n. [17, 18]).
8. Các đá lamprophyr (mafic
siêu kiềm - minet) có mặt ở Đắc Ripen, Đắc Long, Kon Fam (Kon Tum) dọc đứt gãy
Pô Cô (246-228 Tr.n. [38]. Ngoài ra các đá lamprophyr còn được mô tả ở Măng
Xim?,

Hình 1. Sơ đồ kiến tạo miền
Chú giải:
|
1. Đới Kareli - 2. Đới Baikali -
Ngọc Linh 3. Đới Đà Nẵng |
4. Đới Sê Kông 5. Đới Đaklin 6. Đới Bản Đôn -
Srêpôk 7. Đới An Khê
(trũng chồng gối MZ) |
8. Đới Hà Tiên 9. Đới Nông Sơn -
An Điềm (trũng graben) 10. Đới Đà Lạt 11. Đới Phú Quốc |
12. Trũng Cửu Long (trũng chồng gối KZ) 13. Trũng Sông Ba
(trũng chồng gối KZ) |
Quá trình uốn nếp - nghịch
đảo khép kín các đới cấu trúc sinh vào giai đoạn này đã xảy ra một cách mạnh mẽ
vào Trias giữa được minh chứng bằng sự xuất hiện các thành tạo
gabbro-pyroxenit, periđotit, đunit thuộc phức hệ Chà Vằn, granitoiđ tạo núi, các
phức hệ Hải Vân, Bà Nà. Ở đây có thể thấy sự vắng mặt của hệ bồi kết, không có
tãch giãn, hút chìm mà chuyển ngay sang xô đụng, đóng kín đới cấu trúc. Các quá
trình này xảy ra trên bối cảnh hút chìm của PaleoTethys cắm dưới địa khối Đông
Dương (Inđosinia) và tiếp theo là va chạm gắn kết các khối Shan-Thái (Sibumasu)
- Việt Trung - Đông Dương.
9. Trầm tích lục địa vụn
thô màu đỏ chứa than, loạt Nông Sơn (các hệ tầng An Điềm - T3n ad, Sườn Giữa - T3r sg) [31, 42].
10. Trầm tích vụn thô màu
đỏ (molas lục địa): các hệ tầng: Hữu Chánh (J2 hc), A Ngo (J1-2
ng), Bình Sơn (J1-2 bs),
Trong Nori-Ret và Jura
sớm-giữa ở Nam Việt Nam nói riêng, và trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung, đã
hình thành các cấu trúc dạng địa hào hẹp, trũng giữa núi, bồn nội lục, chậu nhỏ
chứa các trầm tích chủ yếu là lục nguyên phân nhịp chứa than (các hệ tầng Hòn
Gai, Văn Lãng, Suối Bàng, Đồng Đỏ ở miền Bắc Việt Nam và loạt Nông Sơn ở miền
Nam). Các trầm tích này có tướng biển và lục địa xen kẽ (bao gồm các tướng biển
nông, á lục địa, biển ven, vũng vịnh, đầm hồ …). Các thành tạo kể trên có nguồn
gốc vỏ và được hình thành trong bối cảnh tạo núi và chuyển động dạng vòm khối
tảng. Các trầm tích molas chứa than Nori-Ret và Jura sớm-giữa phủ bất chỉnh hợp
lên toàn bộ các cấu trúc Paleozoi muộn - Mesozoi sớm (Sông Đà, Sông Hiến, An
Châu, Sầm Nưa - Hoành Sơn, An Khê (Mang Yang), Đà Lạt, Đăk Lin - Bản Đôn) và
móng Peleozoiđ lân cận. Đây cũng chính là một trong những pha kiến tạo kịch
phát - pha nghịch đảo kiến tạo quan trọng của Việt Nam, Đông Nam Á và cả châu
Á. Giai đoạn T3n-r - J2 thể hiện tính đồng nhất gần như
trên toàn lãnh thổ Việt Nam, bắt đầu bằng trầm tích lục nguyên chứa than rồi
chuyển lên trầm tích vụn thô lục địa màu đỏ. Giai đoạn này là giai
đoạn có gián đoạn trầm tích cục bộ và là giai đoạn phi magma trên toàn lãnh thổ
Việt
Vào cuối Jura - đầu Creta,
ở phần đông nam của Việt
1. Trầm tích lục nguyên,
lục nguyên - phun trào trung tính - axit (anđesitobazan, anđesit,
anđesitođacit, đacit, ryolit, felsit và tuf của chúng) hệ tầng Đèo Bảo Lộc (J3
đl, phun trào kiềm vôi,
cao kali) [21, 22, 31, 42].
2. Thành tạo xâm nhập
gabbro, gabbro-pyroxenit, gabbro-norit phức hệ Tây Ninh [22].
3. Thành tạo magma xâm nhập
điorit-granodiorit-tonalit-granit phức hệ Định Quán (loạt vôi-kiềm, cao kali)
[5, 6, 8].
Các thành tạo này đặc trưng
cho bối cảnh rìa lục địa tích cực phát triển trong quá trình hút chìm của Tây
Thái Bình Dương vào Đông Á [3, 4, 15, 41, 44]. Theo một quan điểm khác [2] thì
các thành tạo phân dị dài điorit-granođiorit-granit (từ gabbro-điorit tới
granit) thuộc loạt vôi-kiềm với K > Na (kiểu Định Quán) và
granit-leucogranit đặc trưng cho chế độ tạo núi (cứng rắn hóa đầy đủ vỏ lục
địa). Giai đoạn từ Creta giữa-muộn trở về sau được xem là giai đoạn hoạt hóa
nội lục.
III.
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BIỂU HIỆN CỦA CHU KỲ INĐOSINI Ở MIỀN
Chu kỳ Inđosini diễn ra vào
giai đoạn mà ở quy mô toàn cầu là giai đoạn có nhiều biến cố địa chất lớn: dập
vỡ đại lục Pangea II, đóng kín đại dương Paleozoi (PaleoTethys), mở ra các đại
dương mới (MesoTethys), sự thay đổi đột ngột tiến trình phát triển thế giới cổ
sinh vật vào ranh giới Permi-Trias ...
Một số đặc điểm biểu hiện
của chu kỳ Inđosini ở miền Nam Việt
- Chu kỳ Inđosini không bắt
đầu xảy ra cùng một lúc trên các khu vực khác nhau của miền Nam Việt Nam nói
riêng, và toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung, song có những biểu hiện của các quá
trình tạo núi, hoạt động magma và biến chất diễn ra mạnh mẽ nhất trong khoảng
Permi muộn - Trias giữa và đặc trưng bằng các hoạt động biến dạng, trượt cắt
ngang, uốn nếp, nghịch đảo mạnh mẽ vào cuối Carni (điều này thể hiện rõ hơn ở
miền Bắc Việt Nam). Chu kỳ Inđosini trên toàn bộ diện tích lãnh thổ Việt
- Bối cảnh kiến tạo cung
đảo núi lửa kiểu rìa lục địa tích cực Paleozoi muộn hình thành do sự hút chìm
của PaleoTethys ở rìa tây nam Inđosinia mà hiện tại còn lộ ra một số tổ hợp
anđesitobazan loạt vôi-kiềm, flysh, turbiđit ở Đăk Lin, Tây Nam Bộ [21, 22,
41].
- Ở miền Nam Việt Nam,
trong chu kỳ Inđosini có hoạt động tái nóng chảy (các khối magma Đại Lộc… ),
các hoạt động biến chất nhiệt độ cao đến siêu cao, biến chất áp suất cao xảy ra
trên nền khối nhô Kon Tum đã cứng rắn hóa đi kèm với các pha nhiệt kiến tạo
[11-13, 24, 25, 28, 32-34, 45-47], chúng có thể là kết quả của các biến cố va
chạm lục địa vào Permi - Trias (Shan-Thái - Inđosinia - Việt -Trung) với các
biểu hiện:
a) Granulit mafic trong đá
gneis mylonit hóa loạt Ngọc Linh vùng Đắc Tô
b) Granulit pelit loạt Kan
Nack vùng Sông Ba (T = 900-10500C, tuổi: 240-250 Tr.n.).
c) Gneis hệ tầng Khâm Đức
(T = 7400C; P = 8 kbar; T = 6400C; P = 12 kbar).
d) Charnockit loạt Kan Nack
(T = 700 -11500C; P = 3,4 - 5,7 kbar, tuổi: 240-260 Tr.n.).
e) Gneis pelit Pô Kô phức
hệ Ngọc Linh (tuổi 229 Tr.n.).
g) Granulit eclogit basic
Sông Ba (245-250 Tr.n.).
Các biểu hiện biến chất
tương tự cũng xảy ra tại Sông Mã (243 Tr.n.), Đại Lộc - Khe Sanh (244 Tr.n.) [12,
13]. Các hoạt động magma và biến chất này xảy ra trong cùng khoảng thời gian
260-210 Tr.n..
- Trong khi ở các đới cấu
trúc Inđôsiniđ miền Bắc Việt Nam ở bậc cao hơn phổ biến các cấu trúc dạng tuyến
hẹp, không liên tục, nhiều gián đoạn cục bộ, các cấu tạo vảy phủ chờm, các đới
tách giãn dạng cánh gà, các uốn nếp ngắn, cụt, đoản, đôi khi dốc đứng, thì ở
Nam Việt Nam các biểu hiện dạng này yếu hơn nhiều.
+ Trong chu kỳ Inđosini ở
miền Nam Việt Nam tồn tại các đới trượt bằng, các đới biến dạng dẻo (tuổi
217-255 Tr.n., ghi nhận được ở Kan Nack, Quảng Ngãi, Kon Tum, M’Đrắc, Đại Lộc
[22]), các đới trượt cắt (do kết quả của quá trình xô đụng: Thà Khẹt - Đà Nẵng,
Đà Nẵng - Khe Sanh, Tam Kỳ - Hiệp Đức, Trà Bồng - Hưng Nhượng, Pô Cô…) [11, 28,
35, 47].
+ Trong Trias ở miền Bắc
Việt Nam phổ biến các thành tạo carbonat tướng biển nông đến trung bình (các hệ
tầng Hồng Ngài, Điềm He, Đồng Giao, Pác Ma, Hoàng Mai), cũng vào thời gian này
ở miền Nam Việt Nam hoàn toàn vắng mặt các thành tạo carbonat (ngoại trừ một
diện tích nhỏ ở bờ bắc đảo Hòn Nghệ).
+ Các biểu hiện của hoạt
động magma granitoiđ khá phổ biến và phong phú vào chu kỳ Inđôsini với sự biểu
hiện của các phức hệ Điện Biên, Núi Điệng, Sông Mã, Móng Cái, Kim Bôi, Phia
Bióc, Bến Giằng - Quế Sơn, Hải Vân, Bà Nà, Vân Canh.
- Chu kỳ Inđôsini ở miền
Nam Việt
- Các đới cấu trúc chính
hình thành trong chu kỳ Inđosini ở lãnh thổ Việt Nam là: Sông Đà, Sông Hiến, An
Châu, Sầm Nưa - Hoành Sơn, An Khê (Mang Yang), Đăk Lin - Bản Đôn, Phú Quốc, Hà
Tiên, Nông Sơn - An Điềm (Sông Bung).
- Các khoáng sản chính của
chu kỳ Inđosini ở miền Nam Việt
+
Chì-kẽm: Gia Bạc, Núi Dinh;
+
Vàng (thạch anh - vàng, thạch anh - sulfur - vàng, có nơi liên quan với phức hệ
Bến Giằng - Quế Sơn… ): Khe Rin, Đắc Ri Pen, Đắc Krông, Bãi Đất, Ngọc Tụ, Bãi
Gió, Sa Bình, Tiên Thuận, Phước Hiệp, Tiên Hà, Hiệp Thuận, Thăng Phước, Đắc Sa,
Suối Ty, Suối Nho, Suối Linh, Trà Năng…;
+
Fluorit (liên quan với granit phức hệ Vân Canh): Xuân Lãnh;
+
Molybđen - đồng: Sa Thầy?, Núi Đất?.
IV. KẾT
LUẬN
Giai đoạn Paleozoi muộn -
Mesozoi là một trong những giai đoạn đặc biệt trong tiến trình lịch sử địa chất
của Việt
Công trình này có sự hỗ trợ
đề tài NCCB mã số 7.177.06 của Bộ Khoa học và Công nghệ.
VĂN
LIỆU
1. Belov A.A., Yu.G. Gatinsky, A.A.
Mosakovsky, 1985.
Các Inđosiniđ Âu-Á. Geotektoniks, 6 : 21-42 (tiếng Nga).
2. Bogatikov O.A., A.M. Borsuk,
V.A. Kononova, V.A. Pavlov, A.K. Simon, 1987. Các thành hệ magma: Chỉ thị cho sự
tiến hóa của thạch quyển. Tin tức Viện HLKH Liên Xô, Loạt ĐC, 8 : 3-13
(tiếng Nga).
3. Bùi Minh Tâm, Đặng Văn Can,
Trương Minh Toản, Trịnh Xuân Hoà, 2005. Hoạt động magma Meso-Cenozoi và khoáng sản liên quan ở đới
Đà Lạt. Địa chất và Khoáng sản, 9 : 140-148.
4. Bùi Minh Tâm, Lê Duy Bách, Trịnh
Xuân Hòa, 2006.
Nguồn gốc các thành tạo granitoid đới Đà Lạt theo đặc điểm địa hóa đồng vị. TC
Các KH về TĐ, 2 : 233-240. Hà Nội.
5. Đào Đình Thục, Huỳnh Trung (Đồng
chủ biên), 1995. Địa chất Việt
6. Đỗ Đình Toát, Lê Thanh Mẽ, 2002. Đặc điểm các hoạt động magma
Mesozoi-Kainozoi khu vực Trung Trung Bộ và mối liên quan của chúng với kiến tạo
mảng. TC Địa chất, A/272 : 11-19. Hà Nội.
7. Fromaget J., 1941. L’Indochine française, sa
structure géologique, ses roches, ses mines et leurs relations possibles avec
la tectonique. Bull. SGI, XXVI/2,
8. Huỳnh Trung, Nguyễn Xuân Bao,
1991. Magma xâm
nhập đới Đà Lạt. Địa chất và nguyên liệu khoáng, 1 : 15-41. Liên đoàn ĐC 6,
TP HCM.
9. Khain V.E., 1992. Các chu kỳ
10. Khain V.E., 2000. Tính chu kỳ quy mô lớn trong lịch
sử kiến tạo Trái đất và các nguyên nhân có thể của nó. Geotektoniks, 6 :
3-14 (tiếng Nga).
11. C. Lepvier, Nguyen Van Vuong,
H. Maluski, Phan Truong Thi, Vu Van Tich, 2008. Indosinian tectonics in
12. Maluski H., C. Lepvrier, Phan
Trường Thị, Nguyễn Văn Vượng, 1999. Early Mesozoic to Cenozoic evolution of orogeny in
13. Miyamoto T., Y. Osanai, N.
Nakano, M. Owada, Nguyễn Thị Minh, Dương Đức Kiêm, Trần Ngọc Nam, 2006. Kết quả bước đầu về tuổi Rb-Sr,
Sm-Nd và thành phần đồng vị của pelit vùng Pô Kô và eclogit vùng Điện Biên. TC
Địa chất, A/5-6 : 38-45. Hà Nội.
14. Nguyễn Đình Uy, Trần Văn Trị,
Hoàng Hữu Quý, Lâm Thanh, Lê Văn Đệ, Đàm Ngọc, Nguyễn Văn Tâm, 1985. Một số nét cơ bản về kiến tạo miền
Nam Việt
15. Nguyễn Kinh Quốc, 1990. Các thành tạo núi lửa Paleozoi
muộn - Mesozoi và khoáng sản liên quan ở rìa nam khối nâng Kon Tum. Địa chất
và khoáng sản, 3 : 123-135. Viện ĐC&KS, Hà Nội.
16. Nguyễn Nghiêm Minh, Phan Văn
Quýnh, Vũ Ngọc Hải, Nguyễn Huy Sính, 1985. Kiến sinh vỏ lục địa và sinh khoáng lãnh thổ Viêt
17. Nguyễn Trung Minh, 2005. Xác định tuổi thành tạo khối Bà Nà
tương ứng với pha kiến tạo Inđosini bằng phương pháp đồng vị U-Pb. TC Địa
chất, A/287 : 20-25. Hà Nội.
18. Nguyễn Trung Minh, 2005. Một số kết quả mới về địa hoá đồng vị của
khối granit Bà Nà và luận giải. Tt báo cáo HNKH 60 năm Địa chất VN, tr.
126-132. Hà Nội.
19. Nguyễn Văn Bình, Vũ Minh Quân,
Phạm Văn Trường, 2000. Một số nét đặc trưng sinh khoáng khối nhố Kon Tum. HNKH Trường ĐH MĐC
lần thứ 14, : 189-194. Hà Nội.
20. Nguyễn Văn Bình, 2005. Về chu kỳ kiến tạo Inđosini ở miền
Bắc Việt
21. Nguyễn Xuân Bao, Vũ Như Hùng,
Trịnh Long, 2000.
Hiệu chỉnh tuổi một số phân vị địa tầng Mesozoi ở Nam Việt
22. Nguyễn Xuân Bao (Chủ biên),
2001. Kiến tạo và
sinh khoáng miền Nam Việt
23. Nguyễn Xuân Tùng, Trần Văn Trị
(Đồng chủ biên), 1992. Thành hệ địa chất và địa động lực Việt
24. Osanai Y., N. Nakano, M. Owada, Phạm Bình, Trần Ngọc Nam, Dương Đức Kiêm, Trần
Văn Trị, 2005. Một
số phát hiện gần đây về quá trình biến chất của địa khối Kon Tum, Trung Bộ Việt
25. Osanai Y., N. Nakano, M. Owada,
Trần Ngọc Nam, Phạm Bình, T. Miyamoto, S. Baba, T. Kawkami, T. Toyoshima,
Nguyễn Trung Minh, Trần Văn Trị, 2007. Lower crustal processes of Trans-Vietnam orogenic belt and
its northern extension: Evidences for Permo-Triassic collision metarmorphism in
26. Phạm Văn Quang, 1985. Khối trung tâm Inđosini. TC Địa
chất, 169 : 1-8. Hà Nội.
27. Phan Trường Thị, 1995. Địa khối Inđosini trong chuyển
động Inđosini ở Đông Dương và biển Đông trong đại Tân sinh. BC HNKH ĐCVN lần
thứ III, tr. 121-131. Hà Nội.
28. Phan Trường Thị, 1997. Hoạt động biến chất và quá trình
tạo núi Trường Sơn. TC Các KH về TĐ, 3 :169-178. Hà Nội.
29. Phan Văn Quýnh, Vũ Ngọc Hải,
Nguyến Nghiêm Minh, Võ Năng Lạc, Văn Đức Chương, 1986. Tiến hoá vỏ lục địa Việt
30. Roger F., H. Maluski, A.
Leloup, C. Lepvier, Phan Truong Thi, 2007. U-Pb dating of high temperature metamormorphic
episodes in the Kon Tum Massif (
31. Tống Duy Thanh, Vũ Khúc (Đồng
chủ biên), 2005. Các phân vị địa tầng Việt
32. Trần Ngọc
33. Trần Ngọc
34. Trần Ngọc
35. Trần Thanh Nhàn, Nguyễn Thị
Thủy, Trần Ngọc
36. Trần Trọng Hoà, Trần Tuấn Anh,
Ngô Thị Phượng, Phạm Thị Dung, Trần Việt Anh, 2005. Hoạt động magma Permi-Trias lãnh
thổ Việt
37. Trần Trọng Hoà, A.S. Borisenko,
Ngô Thị Phượng, A.E. Izokh, Vũ Văn Vấn, Bùi Ái Niên, Trần Tuấn Anh, Phạm Thị
Dung, 2006. Đặc
điểm địa hóa đồng vị của quặng hóa vàng Mesozoi sớm và Mesozoi muộn trong mối
liên quan với hoạt động magma khu vực rìa ĐN địa khối Đông Dương. TC Địa
chất, A/295 : 15-24. Hà Nội.
38. Trần Tuấn Anh, Trần Trọng Hòa,
A.E. Izokh, A.S. Borisenko, A.V. Travin, 2006. Age constraints on the petrogenesis
of lamprophyr from South Central Việt
39. Trần Văn Trị, 1987. Tectonic evolution of the
Inđosinian epoch of
40. Trần Văn Trị (Chủ biên),
2000. Tài nguyên
khoáng sản Việt
41. Trần Văn Trị, Tống Duy Thanh,
Vũ Khúc, 2005. Các
bồn trầm tích trong tiến hoá địa chất ở Việt
42. Vũ Khúc, Bùi Phú Mỹ (Đồng chủ
biên), 1988. Địa
chất Việt
43. Vũ Khúc, Đặng Trần Huyên,
Nguyễn Đình Hữu, 2005. Các thành tựu và tồn tại trong nghiên cứu địa tầng Mesozoi trong những
năm gần đây (1998-2005). Tt báo cáo HNKH 60 năm ĐCVN, tr. 101-111. Cục
ĐC&KS VN, Hà Nội.
44. Vũ Như Hùng, Trịnh Văn Long,
Huỳnh Thị Minh Hằng, 2000. Đặc điểm các thành tạo magma cung rìa lục địa tích cực Mesozoi muộn đới
Đà Lạt. Địa chất, tài nguyên và môi trường NVN, tr. 31-43. Liên đoàn BĐĐC
Miền Nam, Tp. HCM.
45. Vũ Văn Tích, 2006. Tiến hóa biến chất của granulit
phức hệ Kan Nack và quá trình tạo núi Inđosini. TC Các KH về TĐ, 28/2 :
241-252. Hà Nội.
46. Vũ Văn Tích, Nguyễn Thị Thủy,
2006. Charnockit
nhiệt độ siêu cao ở địa khối Kon Tum và ý nghĩa địa động lực trong quá trình
tạo núi Inđosini. TC Địa chất, A/296 : 8-15. Hà Nội.
47. Vũ Văn Tích, Hoàng Thị Thụy,
2007. Tuổi đồng vị
Ar-Ar của granitoiđ và pegmatit trong đới trượt cắt Trà Bồng - Hưng Nhượng và ý
nghĩa của nó trong luận giải nhiệt kiến tạo khu vực. TC Địa chất, A/300 :
57-63. Hà Nội.