ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÀ MÔ
HÌNH CẤU TRÚC CHỨA NƯỚC Ở ĐẢO CÁT BÀ
1NGUYỄN ĐÌNH NGUYÊN, 2PHẠM
MINH TRƯỜNG, 1HOÀNG HỮU HIỆP
1Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, Hà Nội
2Liên hiệp Khoa học Sản xuất nước khoáng, Hà Nội.
Tóm tắt: Bài báo giới
thiệu kết quả nghiên cứu cấu trúc địa chất đảo Cát Bà và đặc tính chứa nước của
các thành tạo carbonat với các tầng chắn là các tập đá phiến sét, sét-silic, và
cơ bản là các yếu tố nước biển, tạo ra sự khác biệt về địa chất thủy văn so với
các khối đá vôi khác như ở cao nguyên Đồng Văn, các
vùng Đồng Mu, Bắc Sơn ở Đông Bắc Bộ. Dựa vào kết quả nghiên cấu trúc - kiến
tạo và quy luật phân bố, các tác giả đã đưa ra các kiểu mô hình chứa nước ở đảo
Cát Bà. Các kiểu cấu trúc này phụ thuộc vào cấu trúc kiến tạo biến cải mạnh
trong Kainozoi và cấu trúc tàn dư của chuyển động tạo núi uốn nếp Inđosini.
I. MỞ ĐẦU
Quần
đảo Cát Bà là một vùng núi đá vôi, nơi các quá trình karst phát triển mạnh mẽ,
hình thành các thung lũng trên đảo. Đảo Cát Bà với diện
tích 298 km2 có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá.
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm cấu trúc - kiến tạo và xây dựng mô hình
cấu trúc chứa nước, ta thấy các tầng cấu trúc đá vôi bị karst hóa tạo ra các tầng
chứa nước và các tầng chắn nước, chủ yếu là các tập đá phiến sét-silic,
silic-vôi, vôi-silic không nứt nẻ. Đặc biệt là tầng chắn nước nước biển đã tạo
cho vùng này tiềm năng lớn về nước dưới đất, đó là một đặc thù của địa chất
thủy văn đá vôi trên biển. Do vậy, đối tượng nghiên cứu chính của bài báo này
là cấu trúc địa chất và sự chi phối của nó tới các tầng chứa cũng như các tầng chắn
nước trong phạm vi đảo Cát Bà.
Trong công trình Địa chất và khoáng sản thành phố Hải Phòng [2], Ngô Quang Toàn đã mô tả cấu trúc địa chất và
tài nguyên nước đảo Cát Bà và đã thể hiện cấu trúc uốn nếp lồi và lõm bị biến
cải mạnh và hai hệ thống đứt gãy TB-ĐN và ĐB-TN.
Tài liệu ảnh máy bay thực hiện năm 2003 và tài liệu đo vẽ cấu trúc địa
chất tỷ lệ 1/10.000 đối với các thung lũng và 1/25.000 cho toàn đảo, kết quả
lập các mặt cắt chi tiết, đo đạc địa vật lý cho phép hiểu rõ hơn về cấu trúc
kiến tạo đảo Cát Bà, phục vụ cho việc thiết kế mạng lưới giếng khoan tìm kiếm
thăm dò nước.
II. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT ĐẢO CÁT BÀ
1. Địa hình, địa mạo đảo Cát Bà
Đảo Cát Bà được cấu tạo chủ yếu bởi các thành tạo đá vôi, do đó địa hình
có sự phân cấp lớn. Vì vậy, có thể phân chia ra làm 4 loại địa hình chủ yếu:
- Địa hình núi cao sườn dốc: Địa hình núi cao sườn dốc chiếm diện tích nhỏ
và phát triển trong các thành hệ đá vôi, đá vôi silic, đá vôi sét xen bột sét. Ở
đây, do đặc điểm thạch học nên karst kém phát triển. Các dãy núi thường kéo dài
liên tục theo phương TB-ĐN với độ cao tuyệt đối từ vài chục tới hơn 200 m. Sườn
khá dốc từ 20 tới 400. Lớp phủ pha tàn tích khá dày, từ gần một mét
tới hơn chục mét.
- Địa hình núi đá vôi karst: Đây
là địa hình đặc trưng của đảo. Địa hình này chiếm tới 90 % diện tích của đảo. Ở
nhiều vùng, trên các dãy núi này còn tồn tại lớp phủ rừng nguyên sinh với thảm
thực vật khá phát triển và ở đây trên bề mặt đá gốc thường có lớp phủ pha tàn
tích mỏng. Các dãy núi đá vôi thường phân bố không liên tục và bị phân cắt
thành các núi độc lập với cao độ tuyệt đối thường trên dưới 250 m, cao nhất là
305 m.
Các núi đá tập hợp thành các dãy kéo dài theo phương TB-ĐN, giữa chúng
là các thung lũng có kích thước khác nhau, lớn nhất là hai thung lũng Trung
Trang và Khe Sâu, nằm ở phần trung tâm của đảo.
- Địa hình thung lũng: Các thung lũng trong
vùng liên quan chặt chẽ với các hệ thống đứt gãy trên đảo và thường là các
thung lũng nằm kẹp giữa các dãy núi đá vôi, và có phương gần trùng với phương
kéo dài của các núi đá vôi, song cũng có nơi phương của chúng cắt phương của
các dãy núi, đó là trường hợp chúng được phát triển theo các đứt gãy chéo. Các
thung lũng thường được phát triển theo các đứt gãy phương TB-ĐN và các đứt gãy á
vĩ tuyến. Quá trình hình thành thung lũng chủ yếu là quá trình karst và bào mòn
xâm thực. Trong vùng núi đá vôi mặt cắt các thung lũng thường có dạng chữ U,
vách dựng đứng. Kích thước biến đổi mạnh, chiều dài từ 1 tới vài km, chiều rộng
từ vài chục mét tới hơn 1 km. Bề mặt thung lũng thường được phủ bởi các lớp
trầm tích Đệ tứ có chiều dày biến đổi mạnh, có khi tới vài chục mét, lớn nhất
là ở thung lũng trung tâm Vườn quốc gia, song nhiều nơi lộ ra đá gốc.
Các thung lũng thường kéo dài theo phương TB-ĐN. Một số thung lũng điển
hình như Khe Sâu (Hải Sơn), Đồng Cỏ, Trung Trang, trung tâm Vườn quốc gia, Tre,
Bù Lu. Chúng nằm kế tiếp nhau dọc theo con đường xuyên đảo từ thị trấn Cát Bà
đến Gia Luận. Kích thước của chúng thường có chiều rộng khoảng 300-400 m và
chiều dài khoảng 1.500-2.000 m . Một số thung lũng độc lập như Hiền Hào, Gia Luận
thì có dạng đẳng thước.
Đáy các thung lũng có độ cao khoảng 5-25 m trên mực nước biển, trên đó
nhân dân trồng trọt các cây lương thực và thực phẩm.
- Địa hình rừng ngập mặn ven biển: Dạng
địa hình này nằm bao quanh đảo, cao 1-4 m trên mực nước biển. Một số nơi chúng
chiếm diện tích khá lớn như ở vịnh Cát Bà nằm ở phía nam, vùng Phù Long ở phía
tây. Đó là những dải cát ven biển được một lớp phù sa che phủ, trên đó mọc các
loại cây ưa mặn như sú, vẹt và các loại cây đặc trưng cho đầm lầy, có chỗ rộng
tới 1 km và kéo dài vài ba cây số.
2. Cấu trúc kiến tạo đảo Cát Bà
2. 1.
Cấu trúc đứng
Dựa vào đặc điểm bất chỉnh hợp, cấu trúc uốn
nếp bên trong các thành tạo địa chất đảo Cát Bà được chia thành hai tầng cấu
trúc: tầng cấu trúc tuổi Đevon-Carbon-Permi và tầng cấu trúc Kainozoi. Giữa hai
tầng cấu trúc này là bất chỉnh hợp kèm gián đoạn địa tầng và cấu trúc uốn nếp,
trong đó các thành tạo Kainozoi chủ yếu là các trầm tích Đệ tứ bở rời, nằm
ngang, phân bố chủ yếu trong các thung lũng dọc theo đứt gãy Trung tâm và Việt
Hải.
Tầng cấu trúc tuổi Đevon-Carbon-Permi được
phân chia ra hai phụ tầng cấu trúc:
- Phụ tầng cấu trúc dưới có tuổi Đevon muộn - Carbon sớm.
- Phụ tầng cấu trúc trên có tuổi Carbon giữa - Permi.
Về mặt địa tầng, chúng là các thành tạo trầm
tích phát triển liên tục, nhưng khác nhau về tính phân lớp. Các thành tạo Đevon-Carbon
hạ chủ yếu là đá vôi phân lớp trung bình 30-40 cm, đá phiến sét, đá phiến sét
silic; đá vôi dạng khối đóng vai trò thứ yếu. Bởi vậy, đặc tính của phụ tầng
cấu trúc này là sự phát triển các nếp lồi và các nếp lõm. Cấu trúc uốn nếp được
xác định theo sự bộc lộ của 3 tập thạch học: đá vôi phân lớp trung bình (tập
dưới), đá vôi phân lớp dày và dạng khối (tập giữa) và đá vôi silic, sét-silic
phân lớp mỏng (tập trên).
Tập dưới - đá vôi phân lớp trung bình xen sét-silic Đevon thượng -
Carbon hạ (D3 -C1)1:
Thành phần thạch học đặc trưng của tập này là đá vôi phân lớp trung bình
(Ảnh 1), dày 20-30 cm xen các lớp đá phiến silic-sét dày 2-5 m, trong đó các
lớp đá phiến silic dày 5-7 cm, các lớp sét dày 1-2 mm, lót đáy là đá vôi dạng
khối, màu đen, chứa nhiều bitum đặc trưng cho đá vôi Đevon.
Đá vôi phân lớp trung bình bị tái kết tinh không đồng đều, thường có độ
hạt trung bình hoặc mịn. Tập đá phiến silic-sét xen trong tầng này thường bị
phong hóa mạnh cho màu vàng bẩn.
Tập giữa - đá vôi dạng khối xám xanh Đevon thượng - Carbon hạ (D3-C1)2
Tập đá vôi này phân lớp dày đến dạng khối màu xám xanh, cấu tạo phân dải
mờ, lộ ra chủ yếu ở phần trung tâm đảo, nơi phát triển hệ thống đứt gãy trung
tâm Gia Luận - Cát Cò, bởi vậy ở đây chúng gần như tạo nên một nếp lõm bậc cao.
Thành phần thạch học của tập chủ yếu đá vôi hạt vừa, hạt mịn, tái kết tinh
không đồng đều, mức độ tái kết tinh thay đổi mạnh, trong một số diện tích bị
phá hủy mạnh, cà nát. Có cấu trúc dạng khối, tập đá này tạo nên các dãy núi khá
bền vững, kéo dài trong không gian. Chiều dày khoảng 200 m (Ảnh 2).

Tập trên - đá vôi silic, đá phiến sét-silic phân lớp
mỏng, chuyển lên đá vôi silic Đevon thượng - Carbon hạ (D3-C1)3
Thành phần thạch học chủ
yếu là đá phiến sét-silic, đá vôi silic phân lớp mỏng, một số chỗ rất giàu silic
tạo nên các ổ silic. Bề dày của các lớp đá vôi silic thay đổi trong khoảng
10-15 cm (Ảnh 3).
Tập này nằm chỉnh hợp dưới tầng đá vôi dạng khối màu xám trắng. Bề dày
của tập khoảng 200 m (Ảnh 4).
Phụ tầng cấu trúc Carbon trung - Permi gồm đá vôi dạng khối phân bố ở
phần rìa của cấu trúc uốn nếp mạnh tuổi Đevon-Carbon sớm. Dấu hiệu để nhận biết
tại thực địa là đá vôi dạng khối thường tạo nên kiểu địa hình phễu karst có chế
độ địa chất thủy văn riêng. Khác biệt với đá vôi Đevon chúng thường có màu
trắng xám, ít vật chất hữu cơ.
2.2. Cấu trúc ngang
Cấu trúc địa chất đảo Cát Bà tuy
có diện tích nhỏ song rất phức tạp, vì nó nằm ở rìa võng Sông Hồng hình thành
trong Kainozoi, cho nên bị biến cải rất mạnh. Giới hạn phía đông nam đảo là hệ
thống đứt gãy sâu Cát Hải, phân cắt đảo Cát Bà khỏi đảo Cát Hải. Trên bản thân
đảo Cát Bà, đứt gãy Trung Trang từ Gia Luận đến Cát Cò (đứt gãy dọc đường xuyên
đảo) cũng là phần nối tiếp đứt gãy Sông Chanh từ đất liền kéo ra. Cấu trúc địa
chất đảo Cát Bà là một nếp lồi đạt đến kích thước 10-12 km mà nhân của nó là
các thành tạo của phụ tầng cấu trúc dưới (D3-C1) phân bố
ở tây nam đảo. Phụ tầng cấu trúc trên (C2-P) bao bọc nhân nếp lồi
phân bố ở bắc, đông và đông nam đảo.

Cấu trúc đảo Cát Bà khá phức tạp và bị chi phối bới các pha kiến tạo
khác nhau. Các pha kiến tạo Inđosini và Yanshan tạo ra bình đồ cấu trúc uốn
nếp, pha kiến tạo Himalaya làm biến cải các cấu trúc trên, tạo ra các đới cấu
trúc riêng biệt.
3.
Cấu trúc phá hủy kiến tạo đảo Cát Bà (H. 1)
Đảo Cát Bà chịu ảnh hưởng của ba hệ thống đứt gãy kiến tạo, bao gồm hệ
thống đứt gãy phương ĐB-TN với pha tạo núi Yanshan; hệ thống đứt gãy phương
TB-ĐN với pha tạo núi Himalaya và hệ thống đứt gãy theo phương á vĩ tuyến với
hoạt động kiến tạo hiện đại. Cấu trúc đảo bị biến cải lớn chủ yếu liên quan với
hệ thống đứt gãy phương TB-ĐN.
3.1. Hệ thống đứt gãy
phương đông bắc - tây nam
Hệ thống đứt gãy này là kết quả của pha tạo núi
Yanshan bắt đầu từ Creta (90 Tr.n.) làm cho các phức hệ Creta khu vực Đông Nam
Á bị nâng cao mạnh mẽ và hình thành các dãy núi cánh cung và các trũng giữa núi
như bể An Châu, Khorat, Bắc Calimantan, Gayan, v.v...
Hệ thống đứt gãy này là các đứt gãy thuận mặt trượt
nghiêng về phía B-TB tạo nên hệ thống sụt bậc về phía bắc, do vậy đi từ bắc
xuống nam đá cổ dần. Điển hình cho hệ thống đứt gãy này gồm 4 đứt gãy như các
đứt gãy Xóm Trong, Trà Bầu, Trà Dài và Áng Vòng.
Đứt gãy Xóm Trong dài 8 km, góc cắm khá đứng 70-800. Ở vùng Xóm Trong,
cùng với các đứt gãy nhỏ đã tạo thành thung lũng Gia Luận.
Đứt gãy Trà Bầu kéo dài hơn 10 km từ vụng Tùng Gấu
qua núi Trà Bầu kéo qua yên ngựa giữa thung Tre và thung lũng Bù Lu và chạy
sang Phù Long, chúng phân bố phần lớn ở đông bắc Vườn quốc gia. Ở một mức độ
nào đó, chúng phân cắt các thành tạo Đevon thượng - Carbon hạ với Carbon trung
- Permi.
Đứt gãy Trà Dài kéo dài khoảng 5 km từ thung lũng
Trung Trang sang thung lũng Xuân Đám. Đứt gãy này đã tham gia vào quá trình làm
trồi lộ mạch nước khoáng ở Xuân Đám. Đây là một đứt gãy nghịch thể hiện khá rõ
trong mẫu lõi khoan CB29 tại thung lũng Xuân Đám, gần mạch nước khoáng nóng
trồi lộ (Ảnh 5).
Đứt gãy Áng Vòng bị biến cải khá mạnh bởi các đứt
gãy về sau, trên bình đồ kiến trúc hiện đại chúng thể hiện những đoạn rời rạc. Đứt
gãy này chạy từ phía ngoài của Vụng Tùng Gấu qua thung lũng Áng Vòng kéo sang
thung lũng Đồng Cỏ qua Minh Châu và ra vịnh Cái Giá. Chiều dài của đứt gãy này
đạt gần 10 km.

Hình 1. Sơ
đồ cấu trúc địa chất đảo Cát Bà
(theo Phan Văn Quýnh, Nguyễn Đình Nguyên, Phạm Minh Trường, Hoàng Hữu
Hiệp)

Ảnh 5. Hình ảnh đứt gãy nghịch
3.2. Hệ thống đứt gãy phương tây bắc - đông nam
Hệ thống đứt gãy này liên quan chặt chẽ với pha tạo
núi Himalaya vào Eocen (40 Tr.n.) tạo nên phức hệ granit Phan Si Pan. Trong
giai đoạn này quá trình nâng cao vẫn tiếp tục diễn ra và đã thành tạo nên các
địa lũy Bạch Long Vĩ và Tri Tôn.
Những bằng chứng kiến tạo được lưu trữ trên đảo Cát
Bà thể hiện khá rõ bởi đá vôi là môi trường lý tưởng để lưu trữ các dấu hiệu
kiến tạo. Do đó, các phá hủy kiến tạo đã để lại rất nhiều dấu vết trên các
thành tạo địa chất của đảo như: mặt trượt, dăm kiến tạo, phân cắt xê dịch địa
tầng (Ảnh 6).
Hệ thống đứt gãy lớn và sâu ảnh hưởng rất lớn đến
cấu trúc của đảo Cát Bà, như hệ thống đứt gãy Cát Hải bao gồm những đứt gãy
phân cắt đảo Cát Bà khỏi đảo Cát Hải - Hải Phòng. Hệ thống này bao gồm cả đứt
gãy Phù Long. Nó tác động mạnh mẽ tới quá trình hình thành cấu trúc đảo trong
giai đoạn Kainozoi. Loạt các đứt gãy lớn bậc I và bậc II đã tạo cho đảo Cát Bà
có một cấu trúc địa chất khá đa dạng.

Ảnh 6. Dấu hiệu kiến tạo trên đảo Cát Bà.
a)
Cấu trúc đứt gãy bậc I: Tạo nên cấu trúc này có 3
đứt gãy lớn: đứt gãy Phù Long, đứt gãy Trung Tâm xuyên đảo và đứt gãy Tùng Gấu.
Đứt gãy Phù Long nằm ở phía tây nam của đảo. Đây là đứt gãy sâu
tham gia vào đới nâng đảo Cát Bà. Phần lớn đứt gãy chìm dưới biển, chỉ có một
chút lộ ra trên đảo ở xã Xuân Đám. Phương đứt gãy theo hướng TB-ĐN, góc cắm
khoảng 70-800 về phía TN.
Đứt gãy Trung Tâm xuyên cắt đảo với nhiều đứt gãy phụ đi kèm kéo
dài theo phương TB-TN. Đứt gãy thuộc kiểu trượt bằng phải với hợp phần thuận
được ghi nhận bởi hệ thống mặt truợt ở vùng đèo Gia Luận, hang Quân Y. Chuyển
động trượt bằng đã tạo ra các cấu trúc kéo tách thể hiện bằng một chuổi thung
lũng phát triển dọc chúng. Đứt gãy này phát triển trên đảo và tiếp tục kéo dài
ra biển qua Bến Bèo. Đứt gãy này là phần kéo dài của đứt gãy Sông Chanh từ đất
liền ra.
Đứt gãy Tùng Gấu nằm ở phía ĐB của đảo, nó đã phân cắt rìa đông
bắc đảo kéo dài theo phương TB-ĐN; dọc theo đứt gãy này đã hình thành các lạch
cũng như phá hủy đảo tạo thành một loạt các đảo nhỏ phía đông, đông bắc đảo.
Ba đứt gãy
này nằm song song nhau theo phương TB-ĐN. Đây là hệ thống đứt gãy chủ đạo làm
biến cải cấu trúc đảo Cát Bà trong Kainozoi và hình thành nên cấu trúc đảo Cát
Bà như ngày nay.
b)
Cấu trúc đứt gãy bậc II: Các đứt gãy bậc II gồm có
đứt gãy Cát Giá, Minh Châu, Trân Châu, Cái Láng Hạ, Việt Hải, Nút Chai và Hòn
Cầm.
Đứt gãy Cát Giá kéo dài từ Xuân Đám chạy xuống phía đông nam
và hình thành nên vịnh Cát Giá. Đứt gãy này chủ yếu nằm dưới biển và bị phủ bởi
trầm tích Đệ tứ chỉ lộ khoảng gần 2 km ở xóm Đông, xã Xuân Đám.
Đứt gãy Minh Châu kéo dài từ Hiền Hào qua Liên Minh đến Liên Hòa
và tiếp tục phát triển về phía ĐN thuộc kiểu đứt gãy thuận, mặt đứt gãy cắm về TN
với góc cắm lớn, thay đổi trong khoảng 70-800. Đứt gãy này giao cắt
với các đứt gãy B-N tạo ra một số thung lũng nhỏ, đẳng thước như các thung lũng
Hiền Hào, Liên Minh, Minh Châu. Đứt gãy này phân cắt hệ tầng đá vôi phân lớp
trung bình kẹp lớp silic-sét với hệ tầng đá vôi dạng khối.
Đứt gãy Trân Châu chạy song song với đứt gãy Minh Châu, cũng chỉ
xuất phát từ xã Hiền Hào và kéo dài về phía ĐN, góc cắm lớn, gần như theo
phương thẳng đứng, thuộc kiểu đứt gãy thuận, phân cắt hệ tầng đá vôi phân lớp
trung bình kẹp lớp silic-sét với hệ tầng đá vôi dạng khối màu xám xanh.
Đứt gãy Cái Láng Hạ cũng là một đứt gãy lớn
xuyên cắt đảo cách đứt gãy Trung Tâm khoảng 2 km về phía ĐB. Đứt gãy Cái Láng
Hạ xuyên cắt đảo và tạo nên địa hình lạch Cái Láng Hạ, có góc cắm dóc với
phương thay đổi 220-2300.
Đứt gãy Việt Hải có cùng phương với các đứt gãy trên, xuất phát
từ khu Trà Bầu, chạy qua Việt Hải và ra biển. Dọc đứt gãy này đã hình thành
thung lũng Việt Hải, đây là một trong những thung lũng lớn của đảo.
3.3.
Hệ thống đứt gãy Bắc-Nam
Đây là
những đứt gãy hiện đại hình thành trong Kainozoi muộn. Tuy chúng không lớn
nhưng lại chi phối cấu trúc đảo Cát Bà. Đi kèm các hệ thống trên là rất nhiều
đứt gãy nhỏ làm biến cải cấu trúc kiến tạo nơi đây.
Hoạt động kiến tạo trên
đảo Cát Bà gắn liền với qua trình hoạt động kiến tạo khu vực và hoạt động kiến
tạo ở đây có thể nói là vẫn đang tiếp diễn, mà bằng chứng quan trọng nhất là sự
trồi lộ mạch nước khoáng nóng tại thung lũng Xuân Đám, xã Xuân Đám.
III. MÔ HÌNH CẤU TRÚC CHỨA NƯỚC TRÊN ĐẢO CÁT
BÀ
1. Đặc điểm chung của tầng chứa nước
Theo nguyên lý chung của
địa chất thủy văn thì mỗi một tầng chứa nước phải kèm theo một tầng cách nước.
Tầng chứa nước trong đá vôi khác với tầng chứa nước trong trầm tích bở rời. Vì
tầng chứa nước trong trầm tích bở rời chỉ phụ thuộc vào độ hạt của tầng trầm
tích chứa nước, còn tầng chứa nước trong đá vôi lại phụ thuộc vào quá trình
karst hóa và hệ thống khe nứt (đới dập vỡ, karst hóa và hang ngầm).

Hình 2. Mô hình tổng
hợp cấu trúc tầng chứa nước đảo Cát Bà
Đi từ trên xuống bao gồm:
1. Tầng chứa
nước trầm tích Đệ tứ.
2. Tầng chứa
nước đá vôi tuổi C2-P.
3. Tầng cách
nước (đá phiến sét silic tuổi D3-C1).
4. Tầng chứa
nước đá vôi tuổi D3-C1.
5. Tầng cách
nước (đá phiến sét vôi, vôi sét, silic vôi, vôi silic không nứt nẻ tuổi D3-C1)
6. Tầng chứa nước đá vôi
tuổi D3-C1.
Các tầng chứa này phụ
thuộc khá lớn vào các tầng chắn bên dưới, bởi nếu các tầng chắn này bị phá vỡ
do đứt gãy kiến tạo và quá trình karst hóa thì nước dưới đất sẽ thoát đi, đồng
thời nước biển sẽ xâm nhập lên nếu ta khai thác nước dưới đất không đúng - vượt
quá lượng nước cung cấp cho nước dưới đất. Khi đó khó có thể làm ngọt nước lại
được như các giếng khoan Cảng Cá, Nước Khoáng và Áng Vả đang khai thác ở thị
trấn Cát Bà.
2. Các kiểu cấu trúc chứa nước đảo Cát Bà
Ở đây có thể chia ra làm
3 kiểu cấu trúc chứa nước như sau:
a) Kiểu cấu trúc hang -
bọng karst: Kiểu này gặp khá phổ biến trong vùng đá vôi khi
bị nứt nẻ mạnh. Nó nằm ở những độ cao khác nhau, phân bố ở nhiều nơi. Đặc điểm
của nó là quy mô chứa nước nhỏ, nhưng có chất lượng cao, nguồn nước có quanh
năm. Quá trình thành tạo kiểu này là do kiến tạo, phong hóa vật lý phát triển
các khe nứt và phong hóa hóa học tạo ra các hố (bọng) chứa nước mà phía dưới
không phát triển khe nứt hoặc có tầng chắn như sét silic, silic vôi. Đối với
kiểu cấu trúc chứa nước có thể thấy ở trung tâm Vườn quốc gia, Gia Luận, nguồn
cung cấp nước chủ yếu là các dòng chảy ngầm (Hình 3).
b) Kiểu cấu trúc thung
lũng karst:
Đặc trưng
cho kiểu cấu trúc này có 3 tầng chứa nước:
- Tầng chứa
nước mặt;

Hình 3. Mô hình khai
thác nước cấu trúc kiểu hang - bọng karst
- Tầng chứa
trong trầm tích Đệ tứ;
- Tầng chứa trong đới
karst ngầm.
Tầng chứa nước mặt ở đây không nhiều bởi tầng trầm tích Đệ tứ ở vùng này không nhiều và,
hơn nữa, tầng trầm tích này gồm đá vôi nên hệ thấm rất cao và ngay bên dưới nó
lại phát triển đới karst với những hệ thống nứt nẻ tương đối mạnh.
Tầng chứa nước trong trầm tích Đệ tứ có bề dày chỉ dao động trong khoảng 6-8 m và
lớn nhất là tại thung lũng trung tâm Vườn quốc gia lên tới 34,5 m và Áng Vả là
36,5 m. Với thành phần đất đá chủ yếu là sét, bột sét, bột lẫn sỏi sạn. Trầm
tích Đệ tứ có khả năng chứa nước rất hạn chế, trừ một số giếng nằm trong đới
pha tàn tích trong các vùng có các lớp sét vôi và vôi sét thì khả năng chứa
nước tăng lên đáng kể.
Một số giếng đào trong
trầm tích Đệ tứ có mực nước tĩnh 3-4 m. Ven bờ suối thì mực nước tĩnh chỉ còn
1,5 m. Một số giếng đào với đường kính 4 m khi hút bằng máy bơm với lưu lượng 4
m3/h thì chỉ hạ thấp xấp xỉ 1 m. Còn đa số các giếng có đường kính
0,7- 0,8 m ở các nhà dân thì chỉ đủ nước cho dân múc bằng gầu sinh hoạt hàng
ngày.
Nước trong trầm tích Đệ tứ
chịu ảnh hưởng của những biến động thời tiết rất rõ rệt. Cuối mùa khô, mực nước
tĩnh sâu khoảng 3-4 m, nhưng sang mùa mưa mực nước dâng cao chỉ còn 0,5-0,8 m,
thậm chí có ngày mưa to (10/6/2002) thì tất cả các giếng quan trắc đều tràn
miệng.

Hình 4. Nước
được khai thác trong trầm tích Đệ tứ
Tầng chứa trong đới karst ngầm với quá trình phát triển karst hóa mạnh với hệ
thống khe nứt và đới dập vỡ lớn thì tầng này có khả năng chứa nước tốt đủ để
khai thác với lưu lượng lớn đảm bảo cung cấp cho toàn thể dân số trên đảo (Bảng
1). Tầng chứa trong đới karst ngầm trên đảo là trầm tích Đevon thượng - Carbon
hạ và Carbon trung - Permi (Hình 5).
Dựa trên mô hình kiểu cấu
trúc thung lũng karst hệ thống giếng khoan được sử dụng khai thác nước cấp cho
sinh hoạt gồm có 4 giếng khoan tại thị trấn Cát Bà và 6 giếng khoan ở thung
lũng Hải Sơn, hai hệ thống này chủ yếu cấp cho thị trấn Cát Bà. Ngoài ra, còn
có 1 giếng ở trung tâm Vườn quốc gia chủ yếu cấp cho sinh hoạt của

Hình 5. Thiết
đồ lỗ khoan N3
Vườn và 1
giếng ở Trạm kiểm lâm cách Vườn quốc gia khoảng 4 km về phía nam; giếng này chủ
yếu phục vụ cho phòng cháy rừng.
Bảng 1. Một số giếng khoan thăm dò có triển vọng
|
TT |
Số
hiệu giếng |
Toạ độ VN2000 |
Chiều
sâu lỗ khoan |
Mực
nước tĩnh (m) |
Lưu
lượng (l/s) |
Mực
nước hạ thấp (m) |
|
|
X |
Y |
||||||
|
1 |
N1 |
707710 |
299400 |
49 |
4,45 |
7 |
6,72 |
|
2 |
N2 |
707420 |
300950 |
48 |
8,2 |
10.4 |
16,95 |
|
3 |
N3 |
705300 |
303350 |
50 |
6,4 |
11 |
16,25 |
c) Kiểu cấu trúc tầng
chắn là nước biển: Tầng chắn nước biển là một tầng chắn đặc thù
của đảo. Đây là một tầng chắn khác biệt so với những tầng chắn thạch học. Tầng
chắn này chỉ có với những địa hình đảo, do tỷ trọng của nước biển nặng hơn nên
toàn đảo được coi là một túi nước ngọt. Mặc dù vậy nếu bị nhiễm mặn sẽ trở nên
rất khó khăn bởi hệ thống nước dưới đất sẽ bị hỏng, thảm thực vật sẽ bị phá hủy
và vấn đề sẽ trở nên rất nghiêm trọng vì khó có thể mà phục hồi được môi
trường.

Hình 7. Mô hình tổng hợp các tầng chứa và tầng chắn
nước
IV. KẾT LUẬN
1. Đảo Cát Bà chịu tác động của ba hệ thống đứt gãy kiến tạo, bao gồm hệ
thống đứt gãy ĐB-TN với pha tạo núi Yanshan; hệ thống đứt gãy TB-ĐN với pha tạo
núi Himalaya và hệ thống đứt gãy theo phương á vĩ tuyến với hoạt động kiến tạo
hiện đại.
2. Cấu trúc đảo bị biến cải mạnh chủ yếu liên quan với hệ thống đứt gãy
TB-ĐN, đặc biệt là đứt gãy Sông Chanh - Cát Bà phân chia đảo làm hai phần
chính.
3. Đảo Cát Bà có 3 kiểu cấu trúc chứa nước chính: kiểu cấu trúc hang -
bọng karst, kiểu cấu trúc thung lũng karst, và kiểu cấu trúc tầng chắn là nước
biển.
VĂN LIỆU
1. Hoàng Ngọc Kỷ (Chủ biên), 2001. Địa chất và khoáng sản tờ Hải Phòng tỷ lệ 1:200.000 kèm theo bản đồ. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Hà Nội.
2. Ngô Quang Toàn, 1993. Địa chất và khoáng sản thành phố Hải Phòng. Bản đồ ĐC, Số đặc biệt
chào mừng 35 năm chuyên ngành BĐĐC, tr. 57-66. Hà Nội.
3. Phan Văn Quýnh (Chủ biên), 2007. Báo cáo thuyết minh Sơ đồ địa
chất đảo Cát Bà. Liên hiệp Khoa
học Sản xuất địa chất nước khoáng, Hà Nội.