ĐỔI MỚI HƠN NỮA MÔ HÌNH ĐÀO TẠO ĐỂ ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐỊA CHẤT THĂM DÒ  CỦA THẾ KỶ XXI

ĐỒNG VĂN NHÌ

Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Nhiệm vụ đấu tranh chống suy thoái kinh tế toàn cầu một phần do khan hiếm nguyên liệu khoáng khi bước vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XX là nhiệm vụ quan trọng của tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay. Một trong những vấn đề cấp bách của công việc đó là đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo thực hiện có hiệu quả việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến nguyên liệu khoáng. Tác giả bài báo đã đề cập đến việc đổi mới chương trình và các môn học của sinh viên đại học và sau đại học của Bộ môn Tìm kiếm - Thăm dò trường Đại học Mỏ - Địa chất trong thời gian tới, nhân dịp Kỷ niệm 30 năm thành lập Bộ môn.


Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới năm 1970, từ những năm 1970-1975 nhiều Viện Nghiên cứu Địa chất khoáng sản và Kinh tế - Địa chất tài nguyên khoáng trên thế giới đã đồng loạt cảnh báo về nguy cơ cạn kiệt, khan hiếm, thiếu hụt tài nguyên khoáng sản, dẫn đến nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Ở nhiều nhà nghiên cứu và một số tổ chức tín ngưỡng trên thế giới xuất hiện cách nhìn quá bi quan và thất vọng về tương lai của tài nguyên khoáng. Họ cho rằng những thông báo của các nhà địa chất là lời tiên tri về một Ngày tận thế.

Trong bối cảnh như vậy, nhận thức về vai trò đặc biệt quan trọng của tài nguyên khoáng (TNK) trong phát triển kinh tế xã hội của thế giới và vấn đề đảm bảo nguyên liệu khoáng (NLK) để duy trì và phát triển sản xuất công - nông nghiệp trong tương lai là vấn đề mang tính toàn cầu, nhiều tổ chức quốc tế dưới sự bảo trợ của Ủy ban Tài nguyên Liên hiệp quốc (UBTNLHQ) và nhiều quốc gia quan tâm nghiên cứu đề xuất và thực hiện hàng loạt giải pháp nhằm khắc phục sự thiếu hụt và khan hiếm TNK trong tương lai. Có rất nhiều giải pháp đã mang lại hiệu quả cao như: giải pháp tiết kiệm NLK trong sản xuất, giải pháp tái chế, giải pháp nghiên cứu sử dụng nguyên liệu thay thế các NLK có nguy cơ cạn kiệt hoặc khan hiếm, giải pháp khai thác lại mỏ cũ, … Chính từ kết quả của những giải pháp trên, nên vào những năm 1985-1990 đã có những thay đổi dự báo về sự đảm bảo nguồn NLK trên thế giới. Nguy cơ cạn kiệt NLK không xảy ra; song sự khan hiếm, thiếu hụt và những khó khăn về cung cấp NLK cho sản xuất khi bước vào thế kỷ XXI thì vẫn còn đó.

Bởi lẽ việc chưa thể đảm bảo vượt qua nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu do khan hiếm và thiếu hụt NLK là thực tế, nhiều nhà nghiên cứu và nhiều quốc gia trong cộng đồng Liên hiệp quốc, tuy không còn cách nhìn quá bi quan và thất vọng về tương lai của tài nguyên khoáng sản, song đều cho rằng không thể quá lạc quan theo kiểu “không có vấn đề gì”. Nhiệm vụ đấu tranh chống suy thoái kinh tế toàn cầu do khan hiếm và thiếu hụt NLK khi bước vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia không loại trừ quốc gia nào trong cộng đồng Liên hiệp quốc. Vấn đề cấp bách hiện nay là:

1. Coi trọng việc thực hiện nhiều giải pháp nhằm khắc phục có hiệu quả sự khan hiếm và thiếu hụt NLK trong hiện tại và tương lai;

2. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc sử dụng triệt để, tổng hợp, hợp lý kinh tế, tiết kiệm và bảo vệ TNK, bảo vệ môi trường;

3. Các quốc gia trong cộng đồng Liên hiệp quốc cần mở cửa, hòa nhập, cộng tác, hỗ trợ lẫn nhau. Đặc biệt là sự tài trợ về kinh tế cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ để có thể tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên khổng lồ trong vỏ Trái đất (các mỏ ẩn, mỏ chôn vùi), trên thềm biển và đáy đại dương, kể cả việc nghiên cứu thu hồi lượng khoáng chất hòa tan trong nước biển và đại dương.

4. Đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo thực hiện có hiệu quả, làm tăng nhanh tốc độ tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến NLK.

Nhân dịp Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Bộ môn Tìm kiếm - Thăm dò, trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội, trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến vấn đề thứ 4, là đào tạo nguồn nhân lực địa chất thăm dò của thế kỷ XXI.

Tổng hợp các kết quả thăm dò, nghiên cứu đánh giá về hiện trạng và hiệu quả công tác tìm kiếm thăm dò các tụ khoáng ở thế kỷ XXI của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia trên thế giới, UBTNLHQ khuyến cáo: các nhà địa chất trên thế giới đã có nhiều cố gắng tìm kiếm, phát hiện ra nhiều nguồn TNK và nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất địa chất của các nguồn TNK, song như thế chưa đủ. Để thật sự hiểu biết đầy đủ về bản chất TNK, cần phải nghiên cứu làm sáng tỏ tính khả thi về công nghệ khai thác, tuyển khoáng và chế biến TNK thành các chủng loại NLK. Đồng thời, phải xác định hiệu quả kinh tế của việc khai thác nguồn TNK đã phát hiện. Với quan điểm này, năm 1996 UBTNLHQ đã công bố Quy phạm phân cấp khung về tài nguyên - trữ lượng khoáng sản và đề nghị các quốc gia trong cộng đồng Liên hiệp quốc biên soạn bộ quy phạm phân cấp tài nguyên - trữ lượng khoáng sản (TNTLKS) riêng cho quốc gia mình theo nguyên tắc có thể lồng ghép vào Quy phạm phân cấp khung về TNTLKS của Liên hiệp quốc. Sau 5 năm nghiên cứu kiểm định và điều chỉnh một số chi tiết, Quy phạm phân cấp khung về TNTLKS của Liên hiệp quốc (1998, 2001) được đại đa số các quốc gia có hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác khoáng sản trên thế giới ủng hộ và biên soạn lại quy phạm phân cấp TNTLKS mới cho quốc gia mình. Ở Việt Nam việc cần thiết biên soạn lại quy phạm để thay thế cho quy phạm cũ (1973) được Đồng Văn Nhì, Trần Văn Trị, Phan Cự Tiến và nnk. [2] đề xuất và từ những năm 2001-2002 công tác biên soạn quy phạm được Hội đồng Đánh giá Trữ lượng Khoáng sản (HĐĐGTLKS) chủ trì thực hiện và đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường thay mặt Chính phủ ban hành trong quyết định số 06/2006/QĐ-BTNMT và ban hành ngày 7/6/2006 [1].

Khác với quy phạm phân cấp TNTLKS cũ, quy phạm mới quy định: mỗi một cấp tài nguyên hoặc trữ lượng khoáng sản phải là sự phối hợp có nguyên tắc quy định của 3 yếu tố: 1) Mức độ chi tiết hoặc độ tin cậy về địa chất; 2) Mức độ khả thi về công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản; 3) Mức độ hiệu quả kinh tế của nguồn TNTL cần phân cấp.

Các khuyến cáo của UBTNLHQ (1996) và đổi mới về phương pháp luận trong phân cấp TNTLKS của Liên hiệp quốc (1996) và Việt Nam (2006) đòi hỏi việc đào tạo nguồn nhân lực địa chất thăm dò thế kỷ XXI phải đổi mới về mô hình đào tạo.

 Thực tế sau khi thành lập Bộ môn Tìm kiếm - Thăm dò trường Đại học Mỏ - Địa chất, từ những năm 1990-1999, Bộ môn đã thành lập đề cương, biên soạn bài giảng và đưa vào giảng dạy đại học (ĐH) và sau đại học (SĐH) các môn học: Phương pháp đánh giá kinh tế - địa chất tụ khoáng (ĐH); Phương pháp đánh giá kinh tế địa chất tài nguyên khoáng sản (SĐH); Phương pháp toán địa chất (ĐH); Phương pháp xử lý thông tin địa chất để tìm kiếm thăm dò khoáng sản và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu địa chất (SĐH); Phương pháp xây dựng các dự án và phân tích các dự án đầu tư phát triển mỏ (SĐH) và môn học Địa chất Khai thác mỏ (ĐH). Việc đưa các môn học trên vào chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ chuyên ngành địa chất thăm dò đã thích ứng đáng kể với yêu cầu đổi mới mô hình đào tạo nguồn nhân lực địa chất thăm dò theo khuyến cáo của Liên hiệp quốc (1996). Tuy nhiên, mức độ đổi mới như vậy chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo kỹ sư, thạc sĩ chuyên ngành địa chất thăm dò thực dụng. Vì vậy, rất cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới chương trình đào tạo. Cụ thể như sau:

1. Để có kiến thức, tay nghề và kinh nghiệm trong lĩnh vực đánh giá kinh tế địa chất TNK, đánh giá mức độ khả thi về khai thác - chế biến khoáng sản và hiệu quả kinh tế mỏ, cần phải tăng thêm thời lượng môn học và bổ sung các môn học cần thiết như: Phương pháp đánh giá kinh tế địa chất TNK; Phương pháp khai thác các tụ khoáng; Tuyển khoáng và có thể cả công nghệ chế biến khoáng sản thành các chủng loại NLK phục vụ cho sản xuất công - nông nghiệp và tham gia cạnh tranh trên thị trường NLK thế giới; Kinh tế NLK và nhu cầu, thị trường, giá cả hàng hóa các chủng loại NKL trong nước và trên thế giới; Bảo vệ môi trường trong thăm dò và khai thác mỏ; Phương pháp xây dựng các dự án và phân tích các dự án đầu tư phát triển mỏ; Báo cáo đầu tư xây dựng công trình khai thác mỏ và dự án đầu tư xây dựng công trình khai thác mỏ…

2. Bước vào thế kỷ XXI, việc sử dụng khoáng chất công nghiệp trở thành thước đo mức độ phát triển của các nước đang phát triển. Nói cách khác, khi khoáng chất công nghiệp ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong chế biến các chủng loại NKL phục vụ cho sản xuất công - nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia trên thế giới, thì quan niệm về phương pháp tìm kiếm khoáng sản đã thay đổi. Ngày nay, các nhà địa chất nghiên cứu cơ bản các lĩnh vực khoa học về địa chất học đều có thể xem là những nhà tìm kiếm khoáng sản. Ví dụ: các nhà địa chất nghiên cứu về địa tầng, tướng đá, cổ địa lý, nghiên cứu về thạch học, thạch luận học, nghiên cứu về khoáng vật học… đều có thể phát hiện các khoáng chất công nghiệp và quặng kim loại có hiệu quả. Mặt khác ở thế kỷ XX, công tác tìm kiếm khoáng sản chủ yếu là các khoáng sản lộ trên mặt đất. Do vậy thường thực hiện việc tìm kiếm khoáng sản theo phương thức “từ điểm đến diện tích”. Tức là, đầu tiên cần phát hiện các biểu hiện quặng, điểm quặng, trên cơ sở đó tìm kiếm mở rộng ra diện thành tụ khoáng, trường quặng, vùng quặng…

Ngày nay, việc tìm kiếm các mỏ ẩn, mỏ chôn vùi, mỏ trên thềm biển và đáy đại dương cần phải thực hiện theo phương thức “từ diện đến điểm”, “từ xa đến gần”. Do vậy, những phương pháp viễn thám, địa vật lý và địa hóa hàng không, địa vật lý và địa hóa trên mặt đất và trên biển… cần được coi trọng nhiều hơn.

Do vậy, cần đổi mới giáo trình về phương pháp tìm kiếm tụ khoáng theo hướng lựa chọn các tổ hợp phương pháp tìm kiếm có hiệu quả để tìm kiếm khoáng sản. Đồng thời, cần chú trọng giảng dạy phương pháp áp dụng các thành tựu toán học và công nghệ học hiện đại để có thể xử lý có hiệu quả nhiều chủng loại thông tin địa chất, trong đó rất cần coi trọng các thông tin thu nhận được từ những kết quả nghiên cứu địa chất cơ bản để dự báo các vùng có triển vọng về khoáng sản.

3. Môn học về phương pháp thăm dò các tụ khoáng tuy đã đổi mới một phần theo cách lược bỏ có mức độ những phương pháp được các nhà khoa học lớn như V.M. Krertez (1960), V.I. Xmirnov (1968), E.O. Pagrơkitski (1973)… biên soạn trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thăm dò mỏ của Liên Xô cũ, ngày nay cần mạnh dạn đổi mới hơn nữa phương pháp luận thăm dò theo hướng Bộ môn đã thực hiện là “mô hình hóa” các tính chất của thân khoáng, tụ khoáng để khai thác lựa chọn hệ thống thăm dò mỏ hợp lý. Cần lược bỏ những phương pháp tính tài nguyên - trữ lượng cũ khó áp dụng công nghệ tin học để tính toán và bổ sung những phương pháp khoanh nối và tính tài nguyên - trữ lượng mỏ thích hợp với Quy định về phân cấp trữ lượng  và tài nguyên khoáng sản rắn mới ban hành [1].

4. Khôi phục lại các môn học Địa chất biển, Khoáng sản biển và phương pháp tìm kiếm thăm dò chúng.

Để thay kết luận cho bài viết này, tác giả thấy cần lưu ý: trong khi viết bài báo này, trên thế giới đang có báo động về nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu, trong đó sự thiếu hụt TNK cũng có tác động đáng kể.

Để tránh lặp lại cách nhìn quá bi quan và thất vọng về tương lai của TNK, các nhà địa chất cần có trách nhiệm nói cho nhiều người biết rằng TNK chưa phát hiện thực sự còn tồn tại với số lượng rất lớn trong lòng Trái đất và với niềm tin vào trí tuệ con người ở thế kỷ XXI các nhà địa chất thăm dò, với sự trợ giúp của những tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại, có thể tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản, thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những vấn đề quan trọng là Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm tới việc đào tạo nguồn nhân lực địa chất thăm dò cho thế kỷ XXI theo hướng địa chất thực dụng.

VĂN LIỆU

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2006. Quy định về phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn. TC Địa chất, A/294 : 67-82. Hà Nội.

2. Đồng Văn Nhì, Trần Văn Trị, Phan Cự Tiến, Thái Quý Lâm, Lê Đỗ Bình, Phạm Vũ Luyến, 1994. Phân loại tài nguyên trữ lượng. TC Địa chất, A/229 : 1-8. Hà Nội.