NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG MÔ HÌNH TOÁN ĐƯỢC THIẾT LẬP TRÊN CƠ SỞ ỨNG DỤNG HÀM PHÂN BỐ CHUẨN ĐỂ DỰ BÁO TÀI NGUYÊN, TRỮ LƯỢNG THAN THEO SỰ THAY ĐỔI ĐỘ TRO

NGUYỄN VĂN LÂM

Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Bài báo trình bày cơ sở lý thuyết và kết quả áp dụng phương pháp dự báo tài nguyên, trữ lượng than theo sự thay đổi độ tro, được thiết lập trên cơ sở ứng dụng và khai thác các tính chất của mô hình phân bố chuẩn ở các mỏ than Khánh Hòa và Núi Hồng (Thái Nguyên), từ đó đề xuất triển khai áp dụng rộng rãi đối với các vùng than khác của nước ta.

I. MỞ ĐẦU

Như chúng ta đã biết, trong thăm dò các mỏ than, việc dự báo tài nguyên, trữ lượng cho từng loại (nhãn) than, tương ứng với khoảng giới hạn độ tro theo tiêu chuẩn sử dụng trong nước hoặc xuất khẩu, có ý nghĩa rất lớn, vì nó cho phép đánh giá tin cậy giá trị kinh tế của mỏ và định hướng cho việc điều chỉnh chất lượng than trong quá trình khai thác. Giải quyết nhiệm vụ này bằng các phương pháp truyền thống thường gặp nhiều khó khăn, đôi khi không thể thực hiện do số lượng bản vẽ và khối lượng tính toán rất lớn. Vì vậy, việc nghiên cứu ứng dụng các phương pháp toán để dự báo tài nguyên, trữ lượng than theo sự thay đổi độ tro với sự trợ giúp của công nghệ tin học là hết sức cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng. Những kết quả trình bày trong bài báo này sẽ giúp các nhà địa chất tiếp cận với mô hình toán có quy trình tính toán tương đối đơn giản, nhưng vẫn bảo đảm độ tin cậy cần thiết trong dự báo tài nguyên, trữ lượng than theo sự thay đổi độ tro.

II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THUẬT TOÁN

Quy luật phân bố chuẩn là quy luật được sử dụng rất rộng rãi để giải quyết các nhiệm vụ trong điều tra, nghiên cứu địa chất nói chung, thăm dò và khai thác khoáng sản nói riêng. Đối với phân bố chuẩn, hàm mật độ xác suất j(x) và hàm phân bố F(x) có dạng:

Trong thực tế địa chất, để đơn giản hoá việc tính toán, thường sử dụng hàm phân bố chuẩn định mức bằng cách đổi biến theo công thức:

Từ công thức (3) có x = us + và dx = sdu. Khi thay biến x bằng u và qua một vài phép biến đổi, tích phân (2) được cải tạo về hàm phân bố Stewdon F(u) có dạng:

Giá trị của hàm (4) tìm được từ bảng tra sẵn trong tài liệu [4, 5]. Từ kết quả xác định  hàm F(u) tính được xác suất đối với lớp xi - xi+1 theo công thức:

P (XI < X < XI+1) = F (UI+1) - F (UI)   (5)

Khi khai thác các tính chất của mô hình phân bố chuẩn, các nhà nghiên cứu đã chứng minh giữa tài nguyên, trữ lượng khoáng sản và chỉ tiêu chất lượng tồn tại mối quan hệ phụ thuộc được diễn đạt theo phương trình sau: 

trong đó: Q(x<xi) - tài nguyên, trữ lượng khoáng sản dự báo trong giới hạn giá trị x <xi; Q(xi<x<xi+1) - tài nguyên, trữ lượng khoáng sản dự báo trong khoảng giá trị xi ¸ xi+1; Q0 - tài nguyên, trữ lượng khoáng sản tính bằng phương pháp truyền thống trong ranh giới thân khoáng được khoanh nối theo giá trị x0.

Như vậy, các phương trình (6) và (7) cho ta mối quan hệ giữa các đại lượng cần tìm Q, u theo các giá trị cho trước Q0 và xi.

III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng lựa chọn nghiên cứu thử nghiệm để tính toán tài nguyên, trữ lượng than theo sự thay đổi độ tro là các mỏ than Khánh Hoà và Núi Hồng thuộc tỉnh Thái Nguyên. Các mỏ này đã được thăm dò qua nhiều giai đoạn và hiện đang khai thác phục vụ nhu cầu của các ngành công nghiệp trong tỉnh. Theo các công trình điều tra địa chất đã tiến hành [2], ở mỏ Khánh Hoà có 6 vỉa than được đánh số theo thứ tự từ dưới lên là V.11, 12, 13, 14, 15, 16, trong đó V.13, 14, 15, 16 có giá trị nhất; mỏ Núi Hồng có nhiều thấu kính than, trong đó có 3 thấu kính than TK.I, II, III đạt giá trị công nghiệp [1].

IV. KẾT QUẢ TÍNH TOÁN

1. Đặc điểm biến hoá độ tro than

Để có cơ sở nhận thức đầy đủ về đặc điểm biến hoá độ tro (AK) trong các vỉa than, chúng tôi tiến hành xử lý thống kê độ tro của 4 vỉa than công nghiệp chính ở mỏ Khánh Hoà (V.13, 14, 15, 16) và 2 thấu kính than mỏ Núi Hồng (TK.II, III). Đây là những vỉa có số lượng mẫu phân tích độ tro theo các điểm cắt vỉa với khối lượng khá lớn, bảo đảm dự báo tin cậy các thông số bằng mô hình toán xác suất - thống kê. Kết quả xử lý thống kê độ tro theo mẫu đơn bằng phần mềm Excel được tổng hợp trong Bảng 1.

Bảng 1. Đặc trưng thống kê độ tro trong than các mỏ Khánh Hoà và Núi Hồng

TT

Tên vỉa

Số lượng mẫu

Độ tro trung bình (%)

Quân phương sai

Hệ số biến thiên (%)

Độ lệch

Độ nhọn

Mô hình phân bố

Mỏ than Khánh Hoà

1

V13

118

23,04

8,77

38,06

0,216

-0,693

Chuẩn

2

V14

83

25,52

9,49

37,19

-0,190

-1,166

Chuẩn

3

V15

420

20,20

8,86

43,86

0,279

-0,662

Chuẩn

4

V16

895

17,41

8,63

49,57

0,458

-0,524

Chuẩn

Mỏ than Núi Hồng

1

TK II

786

14,17

8,54

57,86

1,071

0,500

Chuẩn

2

TK III

104

20,85

8,16

39,14

0,141

-0,899

Chuẩn

Các kết quả trình bày ở Bảng 1 cho phép đưa ra một số nhận xét sau:

- Độ tro của tất cả các vỉa than đặc trưng cho các khu mỏ đều tuân theo quy luật phân bố chuẩn với giá trị trung bình từ 14,17 đến 25,52 % và quân phương sai s từ 8,16 đến 9,49.

- Mức độ biến hoá độ tro của các vỉa than thuộc loại từ đồng đều (V = 37,19 %) đến tương đối đồng đều (V = 57,86 %).

2. Kết quả dự báo tài nguyên, trữ lượng than theo sự thay đổi độ tro

Theo kết quả nghiên cứu ở trên, độ tro của các vỉa than trong 2 khu mỏ đều phân bố theo quy luật chuẩn, nên điều kiện áp dụng của bài toán hoàn toàn thoả mãn. Để tính toán tài nguyên, trữ lượng than theo sự thay đổi độ tro, chúng tôi lựa chọn các vỉa V.15, 16 mỏ Khánh Hoà và thấu kính TK.II, III mỏ Núi Hồng. Theo kết quả tính trữ lượng than với chỉ tiêu độ tro AK £ 40%, trữ lượng than Qo(V.15) = 21.353.361 tấn, Qo(V.16) = 25.173.543 tấn, Qo(TK.II) = 6.587.286 tấn,  Qo(TK.III) = 540.673 tấn [2, 3]. Từ kết quả xác định độ tro trung bình, phương sai, chỉ tiêu AKi chọn trước và trữ lượng than Qo dễ dàng tính được giá trị biến mới ui, hàm F(ui) và tài nguyên, trữ lượng than theo công thức (3), (4), (6) (Bảng 2, 3).

Kết quả tính toán ở các Bảng 2 và 3 cho thấy:

- Khi độ tro tăng thì trữ lượng than tăng, nghĩa là chúng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau. Các vỉa than 15, 16 mỏ Khánh Hoà và thấu kính than II, III mỏ Núi Hồng chủ yếu có trữ lượng thuộc nhóm độ tro AK < 33 % và AK< 32 %. Phần trữ lượng gia tăng tương ứng với độ tro 33-40 % và 32-38 % chiếm tỷ lệ không đáng kể.

- Tất cả giá trị của hàm F(u) đều xấp xỉ 1,0 khi độ tro đạt giới hạn 40 và 38 %, nên tài nguyên, trữ lượng than dự báo có độ tin cậy thỏa đáng.

Để góp phần nhận thức đầy đủ về giá trị kinh tế của vỉa than thông qua chỉ tiêu độ tro, chúng tôi tiến hành dự báo tài nguyên, trữ lượng than tương ứng với từng loại than theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) đối với mỏ than Khánh Hoà và Núi Hồng. Kết quả dự báo theo công thức (7) được trình bày trong các Bảng 4 và 5.

Bảng 2.  Kết quả dự báo trữ lượng than vỉa 15, 16 mỏ Khánh Hoà

TT

AKi (%)

Vỉa 15

Vỉa 16

u

F(u)

Q(AK<AKi) (tấn)

u

F(u)

Q(AK<AKi) (tấn)

1

10

-1,15

0,125

2.669.170

- 0,86

0,195

4.908.841

2

15

- 0,59

0,274

5.850.821

- 0,28

0,390

9.817.682

3

18

- 0,25

0,401

8.562.698

0,07

0,528

13.291.630

4

22

0,20

0,579

12.363.597

0,53

0,702

17.671.827

5

26

0,66

0,745

15.908.254

1,00

0,842

21.196.123

6

33

1,45

0,927

19.794.566

1,80

0,964

24.267.295

7

40

2,24

0,987

21.075.767

2,62

0,996

25.072.849

Bảng 3. Kết quả dự báo trữ lượng than các thấu kính II, III mỏ Núi Hồng

TT

AKi
(%)

Thấu kính II

Thấu kính III

u

F(u)

Q(AK<AKi) (tấn)

u

F(u)

Q(AK<AKi) (tấn)

1

11

- 0,37

0,356

2.345.074

- 1,20

0,115

62.177

2

15

0,09

0,540

3.557.135

- 0,72

0,236

127.599

3

24

1,15

0,875

5.763.875

0,38

0,648

350.356

4

32

2,08

0,981

6.462.128

1,37

0,915

494.716

5

38

2,80

0,997

6.567.524

2,10

0,982

530.941

Bảng 4. Trữ lượng than dự báo theo khoảng độ tro mỏ Khánh Hoà

TT

Khoảng độ tro (%)

Q(V15)
(tấn)

Q(V16)
(tấn)

Q (V15+V16)
(tấn)

Loại than tương ứng theo độ tro (TCVN)

1

<10

2.669.170

4.908.841

7.578.011

-

2

10 - 15

3.181.651

4.908.841

8.090.492

Cám 3a

3

15 - 18

2.711.877

3.473.948

6.185.825

Cám 3b

4

18 - 22

3.800.899

4.380.197

8.181.096

Cục 2 và Cám 4a

5

22 - 26

3.544.657

3.524.296

7.068.953

Cám 4b

6

26 - 33

3.886.312

3.071.172

6.957.484

Cám 5

7

33 - 40

1.281.201

805.554

2.086.755

Cám 6

 

Kết quả tính toán ở các Bảng 4, 5 cho thấy:

- Đối với mỏ Khánh Hoà, theo TCVN 6559/1999 về độ tro, than các vỉa 15, 16 chủ yếu thuộc loại có độ tro AK < 33 %. Trữ lượng của các loại than nằm trong khoảng độ tro từ AK < 10 % đến 25-33 % chiếm tỷ lệ gần tương đương nhau. Loại than có độ tro AK = 33-40 % (cám 6) chỉ chiếm 4,52 % - tương ứng với 2.086.755 tấn.

- Đối với mỏ Núi Hồng, theo TCVN 5333/1999 về độ tro, than các thấu kính II, III chủ yếu thuộc loại có độ tro AK < 11 % và than cám 3, cám 4, cám 5. Loại than cám 6 chỉ chiếm 2 % - tương ứng với 141.621 tấn.

Bảng 5. Trữ lượng than dự báo theo khoảng độ tro mỏ Núi Hồng

TT

Khoảng độ tro (%)

Q(TKII)

(tấn)

Q(TKIII)

(tấn)

Q(TKII +III)

(tấn)

Loại than tương ứng theo độ tro (TCVN)

1

<11

2.345.074

62.177

2.407.251

-

2

11 - 15

1.212.061

65.422

1.277.483

Cám 3

3

15 - 24

2.206.740

222.757

2.429.497

Cám 4

4

24 - 32

698.253

144.359

843.612

Cám 5

5

32 - 38

105.396

36.225

141.621

Cám 6

V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

Các kết quả nghiên cứu đã trình bày cho phép rút ra các kết luận và đề xuất sau:

1. Than anthracit ở các mỏ Khánh Hoà và Núi Hồng có độ tro phân bố theo quy luật chuẩn với mức biến hoá thuộc loại từ đồng đều đến tương đối đồng đều, nên điều kiện áp dụng của bài toán được thiết lập trên cơ sở ứng dụng hàm phân bố chuẩn để dự báo tài nguyên, trữ lượng than theo sự thay đổi độ tro có thể hoàn toàn thoả mãn.

2. Kết quả dự báo tài nguyên, trữ lượng cho thấy các mỏ than Khánh Hoà và Núi Hồng chủ yếu có trữ lượng thuộc nhóm độ tro AK < 33 % và AK< 32 %, đồng thời các loại than từ Cám 3 đến Cám 5 chiếm tỷ lệ gần như nhau, loại than Cám 6 chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Kết quả này cho phép nhận thức đầy đủ hơn về giá trị kinh tế của các mỏ than đó và góp phần điều chỉnh chất lượng than trong quá trình khai thác.

3. Các kết quả nghiên cứu cơ sở lý thuyết và tính toán thực nghiệm ở các mỏ than Khánh Hoà và Núi Hồng cho thấy phương pháp dự báo tài nguyên, trữ lượng khoáng sản được thiết lập trên cơ sở ứng dụng hàm phân bố chuẩn có thể triển khai áp dụng cho những vùng than khác có độ tro phân bố theo quy luật chuẩn. Ngoài ra, do phương pháp có nhiều điểm mạnh nên cần tiếp tục nghiên cứu để mở rộng phạm vi áp dụng đối với các khoáng sản khác có hàm lượng phân bố theo mô hình chuẩn.

VĂN LIỆU

1. Lê Thị Tuyết, 2007. Luận văn thạc sĩ địa chất. Lưu trữ Thư viện Trường ĐH M-ĐC, Hà Nội.

2. Nguyễn Doanh Hợp, Bùi Hoàng Kỷ, 2006. Báo cáo Kết quả tổng hợp tài liệu mỏ than Khánh Hoà - Thái Nguyên (trữ lượng tính đến 31/12/2005). Lưu trữ Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc, TKV. Hà Nội.

3. Nguyễn Văn Vượng, 2001. Báo cáo Cơ sở dữ liệu địa chất mỏ than Khánh Hoà. Lưu trữ Công ty ITE & TKV, Hà Nội.

4. Rưjov P.A., Gudkov V.M., 1966. Áp dụng thống kê toán học trong thăm dò lòng đất. Nxb Nedra, Moskva (tiếng Nga).

5. Trần Tuấn Điệp, Lý Hoàng Tú, 1979. Giáo trình Lý thuyết xác suất và thống kê toán học. Nxb ĐH và THCN, Hà Nội.