ĐẶC ĐIỂM BIẾN CHẤT TRAO ĐỔI LIÊN QUAN ĐẾN CÁC ĐÁ Ở MỎ VẬT LIỆU XÂY DỰNG TÂN LẬP, LẬP THẠCH (VĨNH PHÚC)

NGUYỄN PHƯƠNG, ĐỖ VĂN NHUẬN, NGUYỄN TRỌNG TOAN,

Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Các đá biến chất trao đổi đã được phát hiện đầu năm 2006 ở vùng Tân Lập, Lập Thạch (Vĩnh Phúc) trong quá trình thăm dò đá magma làm vật liệu xây dựng thông thường. Các kết quả nghiên cứu bước đầu đã làm sáng tỏ đặc điểm cấu trúc địa chất, đặc điểm thạch học và nguồn gốc của chúng. Các kết quả nghiên cứu mới nhất cho phép các tác giả xác định được nguồn gốc các đá biến chất trao đổi ở đây khá độc đáo, thuộc kiểu skarn magnesi được thành tạo theo tiến trình giảm dần của nhiệt độ, đặc trưng bởi 3 tổ hợp cộng sinh khoáng vật kế tiếp nhau: forsterit + điopsiđ + spinel, serpentin + talc và serpentin + magnesit. Chất lượng của các đá này đáp ứng được yêu cầu làm vật liệu thông thường và sản xuất bê tông cốt thép nhãn cao.

I. MỞ ĐẦU

Các đá biến chất trao đổi skarn ở nước ta khá phổ biến, như đã gặp ở Thạch Khê, Bù Me, Đá Liền, .... Tuy nhiên, loại skarn calci thường hay gặp, còn skarn magnesi hiếm gặp hơn. Trước khi thăm dò, các đá đã và đang được khai thác ở một số mỏ thuộc vùng Lập Thạch vẫn được gọi là granit. Các kết quả nghiên cứu mới nhất cho phép các tác giả xác định được nguồn gốc các đá biến chất trao đổi ở đây là đá biến chất trao đổi đa giai đoạn kiểu skarn magnesi, thành tạo theo tiến trình giảm dần của nhiệt độ từ cao xuống thấp với các tổ hợp cộng sinh khoáng vật khá đặc trưng. Ngoài việc nghiên cứu các đặc tính của đá phục vụ yêu cầu làm vật liệu thông thường và vật liệu xây dựng, kết quả nghiên cứu còn xác định được tiền đề tìm kiếm khoáng sản mới.

II. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT MỎ

Diện tích nghiên cứu thuộc địa phận huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc). Diện tích có biểu hiện biến chất trao đổi phân bố ở phía ĐN và chiếm hơn 1/3 diện tích nghiên cứu.

Tham gia vào cấu trúc địa chất của khu mỏ có các đá pha 1 của phức hệ Sông Chảy (G/aD1 sc1) hệ tầng Thác Bà (NP-e1 tb) [2]. Phức hệ Sông Chảy gồm các đá granit hai mica dạng gneis, granođiorit dạng gneis, plagiogranit dạng gneis, granit dạng porphyr. Thành phần khoáng vật chủ yếu gồm (%): thạch anh (25-35), plagioclas (30-40), biotit và muscovit (5-10), thứ yếu có felspat kali; các khoáng vật phụ có sillimanit, apatit, sphen, tourmalin, granat với hàm lượng không đáng kể. Thành phần hoá học (%): SiO2 = 61,96-65,36; Al2O3 = 5,86-14,78; FeO+MgO = 3,18 – 6,38; CaO = 6,86-22,4; Na2O+ K2O = 1,83-3,35, trong đó Na2O > K2O. Nhìn chung, thành phần khoáng vật và hóa học của granit khá ổn định, hàm lượng độc hại SO3 thấp hơn chỉ tiêu cho phép.

Hệ tầng Thác Bà phân bố ở phía nam và ĐN, với diện phân bố không lớn. Các đá của hệ tầng thường bị các khối granitoiđ phức hệ Sông Chảy xuyên cắt. Mặt cắt tốt nhất của hệ tầng lộ ra từ Vân Nam đi Bến Giềng, gồm có 2 phần sau:

- Phần dưới: đá phiến thạch anh - sericit-chlorit, đá phiến hai mica xen các lớp mỏng quarzit, gneis migmatit;

- Phần trên: quarzit phân lớp dày, đá hoa phân dải.

Bề dày của hệ tầng khoảng 1800-2200 m.

Đặc điểm hình thái đới đá biến chất trao đổi: Đới đá biến chất trao đổi nằm ở khoảng tiếp xúc giữa các đá nguyên thủy là đá hoa chứa đolomit hoặc đolomit hóa của hệ tầng Thác Bà và các khối granitoiđ của phức hệ Sông Chảy [1]. Chiều dày đới thay đổi từ 70 đến 200 m, chiều sâu chưa khống chế được do các lỗ khoan còn hạn chế, cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu thêm. Khống chế cấu trúc khu mỏ là hệ thống đứt gãy TB-ĐN, hệ thống này hoạt động đến tận Kainozoi.

III. ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN VẬT CHẤT ĐÁ BIẾN CHẤT TRAO ĐỔI

1. Thành phần khoáng vật, cấu tạo và kiến trúc

Kết quả phân tích lát mỏng cho thấy đá biến chất trao đổi ở đây có thành phần khoáng vật chủ yếu là serpentin, thứ yếu là điopsiđ, spinel và magnesit. Độ hạt nhỏ mịn. Kiến trúc vi vảy (sợi) biến tinh. Các khoáng vật phân bố, sắp xếp có xu hướng định hướng, tạo ra các kiểu cấu tạo phân dải. Các khoáng vật trên được thành tạo theo tiến trình giảm dần của nhiệt độ với 3 tổ hợp cộng sinh khoáng vật đặc trưng là forsterit + điopsiđ + spinel (nhiệt độ cao), serpentin + talc và serpentin + magnesit (nhiệt độ thấp), trong đó hai tổ hợp cộng sinh nhiệt độ thấp thay thế chồng lấn tổ hợp cộng sinh nhiệt độ cao (forsterit đã bị thay thế hoàn toàn, chỉ còn sót một phần điopsiđ và spinel).

- Điopsiđ: Hầu như có mặt thường xuyên trong các mẫu. Hàm lượng dao động trong khoảng 3-11 %; dưới kính hiển vi phân cực các tinh thể điopsiđ bị gặm mòn thay thế mạnh, hiện còn sót lại dưới dạng các nhân sót hình tròn hoặc gần tròn, kích thước 0,01-1,5 mm, thường 0,1-0,5 mm, gần như không màu đến phớt lục, cắt khai hoàn toàn, thường phát triển dày (kiểu đialag), tắt xiên C^Ng = 40-45°, giao thoa xanh bậc 2, một số có song tinh.

- Spinel: Có mặt khá phổ biến trong các mẫu. Hàm lượng dao động trong khoảng 1-8 %, dạng hạt tự hình, nửa tự hình, ít bị gặm mòn thay thế, kích thước 0,05-0,7 mm, không màu, độ nổi cao, cắt khai không hoàn toàn, không giao thoa.

- Serpentin: Có mặt thường xuyên trong các mẫu với hàm lượng cao. Màu xám phớt xanh, ánh thuỷ tinh. Hàm lượng dao động trong khoảng 27-95 %, thường là 70-85 %. Dưới kính hiển vi phân cực, serpentin chủ yếu có dạng sợi (chrysotil), chiều dài 0,01-0,5 mm, tập hợp tỏa tia kiểu rẻ quạt, đôi khi dạng tấm (loại antigorit), kích thước 0,05-2 mm, hoặc giả hình theo các hạt forsterit, điopsiđ nguyên thủy. Serpentin thường không màu, tắt đứng, dấu kéo dài dương, giao thoa xám sáng bậc 1.

- Talc: Có mặt không phổ biến, hàm lượng dao động trong khoảng 1-5 %, dạng vảy ẩn tinh đến vảy nhỏ tha hình 0,03 mm, không màu, dấu kéo dài dương, giao thoa xanh bậc 3, phân bố không đều, thường tạo đám, ổ nhỏ.

- Magnesit: Màu trắng phớt xám, ánh thuỷ tinh. Có mặt không thường xuyên, dao động trong khoảng 1-5 %, có mẫu đạt 20-30 %, cá biệt tới 70 %. Dưới kính hiển vi phân cực, magnesit có dạng hạt tự hình, nửa tự hình, kích thước 0,01-0,15 mm, không màu, giả hấp phụ rõ, cắt khai hoàn toàn, giao thoa trắng bậc cao, thường tạo đám, ổ nhỏ, đôi chỗ tạo vi mạch. Ở các vết lộ tự nhiên và các lỗ khoan thăm dò, đã phát hiện các mạch có chiều dày 0,5-1 m, phát triển đến độ sâu 20-35 m.

Ngoài ra ở một số mẫu gặp ít (hoặc không đáng kể) thạch anh, tourmalin, opal, sphen, pyrit.

 

 

 

Ảnh 1. Tập hợp serpentin thay thế
 tổ hợp
cộng sinh forsterit + điopsiđ + spinel.

Phóng đại 50 lần, chụp dưới 2 nicol vuông góc.

 

 

 

Ảnh 2. Tổ hợp cộng sinh serpentin + talc thay thế tổ hợp cộng sinh forsterit + điopsiđ + spinel.

Phóng đại 50 lần, chụp dưới 2 nicol vuông góc.

 

 

Ảnh 3. Tổ hợp cộng sinh serpentin + magnesit thay thế
 tổ hợp
cộng sinh forsterit + điopsiđ
+ spinel.

 Phóng đại 50 lần, chụp dưới 2 nicol vuông góc.

 

2. Thành phần hoá học

Kết quả phân tích hóa silicat 13 chỉ tiêu đã xác định được thành phần hóa học của các đá biến chất trao đổi thuộc vùng nghiên cứu như sau (%): SiO2 = 42,72-55,14, trung bình 48,13; TiO2 = 0 - 0,004; Al2O3: 5,86 - 13,77, trung bình 10,07; Fe2O3 = 0,06 - 1,03, trung bình 0,35; FeO = 1,58 - 5,46, trung bình 3,3; MgO = 1,21 - 4,75, trung bình 2,55; CaO = 14,42 – 27,16, trung bình 21,83; K2O + Na2O = 1,08 - 5,41, trung bình 2,89; SO3 = 0,66 - 1,09, trung bình 0,86; P2O5 = 0,004 - 0,053, trung bình 0,016.

3. Tính năng phóng xạ

Kết quả phân tích tham số vật lý cho thấy đá mỏ Núi Bục thuộc vùng nghiên cứu có cường độ phóng xạ nhỏ từ 0,8-2,0 mR/h, trung bình 1,35 mR/h (giới  hạn cho phép < 30mR/h). Do đó, trong quá trình khai thác đá làm vật liệu xây dựng thông thường, khả năng phóng xạ trên không ảnh hưởng đến môi trường xạ và người sử dụng.

4. Tính chất cơ lý

Kết quả phân tích 20 mẫu cơ lý đá cho kết quả như sau:

Bảng 1. Kết quả phân tích cơ lý đá vùng núi Bục, Tân Lập, Lập Thạch.

STT

Chỉ tiêu cơ lý

Đơn vị tính

Kết quả thí nghiệm

Nhỏ nhất

Lớn nhất

Trung bình

1

Dung trọng (d)

g/cm3

2,77

2,98

2,87

2

Tỷ trọng (D)

g/cm3

2,81

3,05

2,94

3

Độ rỗng (n)

%

1,01

5,63

2,35

4

Độ hút nước (W)

%

0,25

1,39

0,61

5

Hệ số hoá mềm (Ko)

%

0,86

0,95

0,91

6

Cường độ kháng nén khô (d)

kg/cm2

1167

1634

1477

7

Cường độ kháng nén bão hoà (d)

kg/cm2

1057

1474

1344

8

Lực dính kết (C)

kg/cm2

175

250

221

9

Góc ma sát trong (j)

độ

38°10’

40°10'

39°30'

Tóm lại, với thành phần khoáng vật, thành phần hóa học, các đặc tính cơ lý, tính năng phóng xạ và chất độc hại dưới mức cho phép, các đá biến chất trao đổi ở mỏ Núi Bục vùng Tân Lập không chỉ đáp ứng được yêu cầu làm vật liệu thông thường rải đường mà còn đáp ứng yêu cầu sản xuất bê tông cốt thép nhãn cao.

IV. ĐẶC ĐIỂM QUÁ TRÌNH BIẾN CHẤT TRAO ĐỔI

Bước đầu khi nghiên cứu tại thực địa và quan sát dưới kính hiển vi phân cực, có thể thấy các đá ở đây khá giống với serpentinit hoặc listwaenitoiđ, đó là các sản phẩm biến đổi nhiệt dịch của các đá magma siêu mafic. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng và chi tiết đặc điểm thành phần vật chất, kiến trúc, cấu tạo, đặc điểm phân bố, dạng nằm cũng như các yếu tố kiến tạo khống chế, chúng tôi cho rằng các đá biến đổi ở đây là loại đá biến chất trao đổi khá độc đáo, thành tạo theo tiến trình giảm dần của nhiệt độ, trước tiên thành tạo tổ hợp cộng sinh khoáng vật forsterit + điopsiđ + spinel (nhiệt độ cao), sau đó nhiệt độ giảm thành tạo tổ hợp cộng sinh khoáng vật serpentin + talc, serpentin + magnesit (nhiệt độ thấp) thay thế chồng lấn gần như phần lớn tổ hợp cộng sinh khoáng vật nhiệt độ cao (trong đó forsterit bị thay thế hoàn toàn, chỉ còn sót một phần điopsiđ và spinel).

Dựa vào những dấu hiệu nêu trên có thể khẳng định các đá ở vùng nghiên cứu có nguồn gốc biến chất trao đổi thay thế đa giai đoạn kiểu skarn magnesi, được hình thành ở đới sâu vừa. Đây là sản phẩm trao đổi thay thế giữa đá carbonat chứa magnesi (đá hoa chứa đolomit hoặc đolomit hóa) của hệ tầng Thác Bà và các khối granitoiđ của phức hệ Sông Chảy.

V. KẾT LUẬN

1. Các đá ở vùng nghiên cứu thuộc xã Tân Lập, huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc) có nguồn gốc biến chất trao đổi thay thế đa giai đoạn kiểu skarn magnesi.

2. Các đá ở đây không chỉ đáp ứng được yêu cầu làm vật liệu thông thường rải đường mà còn đáp ứng yêu cầu sản xuất bê tông cốt thép nhãn cao.

3. Quá trình biến chất trao đổi có thể hình thành các tích tụ có triển vọng spinel, magnesit cần đầu tư nghiên cứu thêm.

VĂN LIỆU

1. Nguyễn Trọng Toan (Chủ biên), 2006. Báo cáo Kết quả thăm dò đá magma làm VLXD thông thường mỏ Núi Bục, Tân Lập, Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Lưu trữ Công ty CPCTGT Sông Đà, Hà Nội.

2. Phạm Đình Long (Chủ biên), 2001. Địa chất và khoáng sản tờ Tuyên Quang. Kèm theo Bản đồ địa chất tờ Tuyên Quang tỷ lệ 1: 200.000. Cục ĐC và KSVN, Hà Nội.