CƠ QUAN ĐỊA CHẤT TRÊN THẾ GIỚI


     Trên thế giới, hầu hết cơ quan địa chất là tổ chức địa chất của Chính phủ có nhiệm vụ nghiên cứu lập các loại bản đồ địa chất và cung cấp các thông tin khoa học địa chất cơ bản phục vụ Chính phủ, các ngành kinh tế, thương mại và quảng đại quần chúng. Hầu hết các cơ quan địa chất được Chính phủ cấp kinh phí toàn phần hoặc một phần*.

Các nhiệm vụ chính của cơ quan địa chất bao gồm:

 1. Đo vẽ lập bản đồ địa chất đất liền và thềm lục địa. Ở nhiều nước cơ quan địa chất còn lập các bản đồ địa hoá, địa vật lý, thuỷ địa chất.

 2. Đánh giá khoáng sản, năng lượng, nước và tài nguyên đất

 3. Nghiên cứu tai biến địa chất và môi trường.

 4. Bảo vệ và lưu trữ tài liệu, mẫu vật địa chất.

 5. Xuất bản các bản đồ, sách, báo cáo để công bố các dữ liệu về địa chất.

Một số cơ quan địa chất ở Hoa Kỳ, Canađa và nhiều nước ở châu Phi còn lập các bản đồ địa hình làm cơ sở cho bản đồ địa chất. Dầu khí là loại khoáng sản rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nên ở một số nước không đặt nhiệm vụ nghiên cứu dầu khí cho các cơ quan địa chất mà có tổ chức dầu khí riêng. Ở một số nước trong cơ quan địa chất còn có văn phòng khoáng sản làm nhiệm vụ cấp giấy phép thăm dò và tổng hợp các tài liệu thống kê về sản xuất khoáng sản. Cơ quan này còn nghiên cứu khoáng sản cho ngành khai khoáng, tuyển quặng, luyện kim và phục vụ cho các hoạt động khai thác quy mô nhỏ. Các cơ quan địa chất của Hoa Kỳ, Italia còn có nhiệm vụ đào tạo về địa chất. Ở các nước Inđonesia, New Zealand, Nhật, Hoa Kỳ, Italia và ở Trung Mỹ còn có các đơn vị nghiên cứu đặc biệt về núi lửa và động đất.

Cơ quan địa chất nước Anh là một trong số ít cơ quan địa chất nghiên cứu địa từ. Nhiều cơ quan địa chất còn nghiên cứu các chương trình giúp đỡ các nước khác, thí dụ, cơ quan địa chất Ấn Độ và Hoa Kỳ có chương trình nghiên cứu Nam cực, cơ quan địa chất Đức còn nghiên cứu địa chất đại dương. Tùy theo tình hình thực tế, các nước thành lập các cơ quan địa chất khác nhau.

Ở Hoa Kỳ cơ quan địa chất được thành lập từ năm 1879 trực thuộc Bộ Nội vụ, bao gồm cả các nhiệm vụ phân loại đất công, điều tra cấu trúc địa chất, tài nguyên khoáng sản của đất nước. Hiện nay, cơ quan địa chất Hoa Kỳ làm cả nhiệm vụ nghiên cứu địa hình và nghiên cứu địa chất. Khi mới thành lập cơ quan địa chất Hoa Kỳ chỉ có 38 người với kinh phí 106.000 USD/ năm. Nay kinh phí hàng năm tăng lên tới hơn 700 triệu USD với nhân lực hơn 10.000 cán bộ nhân viên. Sở Địa chất Hoa Kỳ có 4 tổ chức chính là: sinh vật học, địa lý, địa chất và nước. Tuỳ từng nước, quy mô cơ quan địa chất có khác nhau. Cơ quan địa chất nhỏ nhất thấy ở LuxembourgMalta, nhân lực chỉ có 8 người. Cơ quan địa chất Trung Quốc từng chiếm vị trí lớn nhất thế giới, vào năm 1994 có đến 1,1 triệu người. Nhưng đến năm 1999, nước này đã cải tổ lại và cơ quan địa chất chỉ còn 6.500 người. Nhiều công tác địa chất đã chuyển xuống cho các doanh nghiệp ở các tỉnh.

 

 

* Việc tổ chức cơ quan địa chất nhà nước rất khác nhau ở mỗi quốc gia, điểm giống nhau của hầu hết cơ quan địa chất nhà nước là được nhà nước đầu tư nhằm mục đích phục vụ cộng đồng, không vì mục đích lợi nhuận (BBT).

 

Các nước có cơ quan địa chất quy mô lớn là Trung Quốc (6.500 người), Thổ Nhĩ Kỳ (3.456 người), Ấn Độ (2.900 người), Ai Cập (2.600 người), Pakistan (1.120 người).

Ở châu Âu nói chung, các cơ quan địa chất lớn hiện có khoảng 600-850 người là Pháp, Anh, Ba Lan, Phần Lan. Các cơ quan địa chất quy mô trung bình có khoảng 300 người là Nam Phi, Thụy Điển, Nhật, Hà Lan, v.v... Các cơ quan địa chất quy mô nhỏ có dưới 100 người là: Áo, Ireland, Bulgaria, Ukraina, Namibia, Bỉ, v.v...

Hầu hết các cơ quan địa chất ở các nước đều được Chính phủ cấp kinh phí hoạt động. Tuy nhiên, có một số cơ quan địa chất có thể có nguồn tài chính từ các hoạt động mỏ và thương mại (BRGM của Pháp, Sở Địa chất Anh, v.v...)

Việc lập bản đồ địa chất thường được chia ra làm 3 giai đoạn:

 Giai đoạn 1: khảo sát lập bản đồ địa chất tỷ lệ nhỏ cho toàn lãnh thổ. Ở Liên Xô đã hoàn thành giai đoạn này năm 1956. Ở Trung Quốc hoàn thành bản đồ tỷ lệ 1/1.000.000 vào năm 1999. Ở Pháp, vào năm 1841 hoàn thành bản đồ địa chất tỷ lệ 1/500.000, ở Bồ Đào Nha vào năm 1876. Ở Tiệp Khắc, vào năm 1960 hoàn thành bản đồ địa chất tỷ lệ 1/200.000. Ở Việt Nam đã hoàn thành bản đồ địa chất toàn quốc tỷ lệ 1/500.000 vào năm 1981 và 1/200.000 vào năm 1994.

 Giai đoạn 2: là giai đoạn nghiên cứu hệ thống và chi tiết, với tỷ lệ trung bình. Trung Quốc chọn tỷ lệ 1/200.000 cho giai đoạn này, Argentina là 1/100.000. Nhiều nước (ngay cả nước có diện tích lớn như Ấn Độ, Pakistan, Nam Phi) thì chọn tỷ lệ 1/50.000. Ở Việt Nam cũng đang lập bản đồ địa chất trên toàn quốc với tỷ lệ 1/50.000. Một số ít nước ở giai đoạn này chọn các tỷ lệ 1/25.000 hoặc phối hợp 1/25.000 với 1/50.000. Ở một số bang của Hoa Kỳ lại chọn tỷ lệ 1/24.000

 Giai đoạn 3: là loại nghiên cứu tỷ lệ lớn không dùng cho toàn quốc, mà chỉ dùng cho các vùng có ý nghĩa kinh tế. Ở Anh dùng tỷ lệ 1/10.000, ở Pháp tỷ lệ 1/20.000, ở Nga tỷ lệ 1/50.000 hoặc 1/25.000, ở Ấn Độ là 1/25.000, ở các đô thị còn dùng cả tỷ lệ 1/5.000.


NGUYỄN KHẮC VINH (sưu tầm)

                                                                                                                                       Tổng hội Địa chất Việt Nam

Ngày nhận bài: 12/5/2007

Người biên tập: Trần Văn Trị.