ĐẶC ĐIỂM CÁC KIỂU QUẶNG MOLYBĐEN Ở VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN NHÂN

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Các biểu hiện quặng molybđen ở Việt Nam khá phổ biến ở phía Bắc tập trung ở các đới Phan Si Pan và Sông Hồng, ở phía Nam từ đèo Cả trở vào đến tận miền Đông, miền Tây Nam Bộ. Nghiên cứu chi tiết có thể phân chia ra các kiểu quặng molybđen: thạch anh - Mo, Mo-W, Mo-U, Mo-Cu. Trong quặng molybđen các kiểu trên phần lớn có Bi, Se, Te, Re đi kèm. Quặng hoá molybđen có nguồn gốc khí hoá - nhiệt dịch nhiệt độ cao đến trung bình, liên quan với các xâm nhập granitoiđ Mesozoi muộn - Kainozoi


Các biểu hiện quặng molybđen khá phổ biến ở Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu tác giả đã phân chia ra 4 kiểu quặng molybđen: 1) thạch anh - Mo; 2) Mo-W; 3) Mo-U; 4) Mo-Cu.

Trên Bảng 3 ta thấy các kiểu quặng Mo đã biết hầu hết có nguồn gốc khí hoá - nhiệt dịch nhiệt độ cao đến trung bình liên quan với  các xâm nhập granitoiđ Mesozoi muộn - Kainozoi.

I. KIỂU QUẶNG THẠCH ANH -  MOLYBĐENIT

Các mỏ kiểu này phân bố ở Sa Pa (Lào Cai) và Núi Sam, vùng Bảy Núi, Núi Sập (An Giang), Bà Rịa, Long Khánh, Hàm Tân, Phan Thiết, Phan Rang, Nha Trang, Cam Ranh, Đèo Cả v.v…

Tại vùng Sa Pa đã phát hiện quặng thạch anh - Mo ở Ô Quy Hồ, Bản Khoang, các mạch thạch anh - molybđenit có trong đới nội tiếp xúc của các đá xâm nhập cũng như trong các đá vây quanh. Cấu trúc vùng mỏ bao gồm các phức hệ đá trầm tích biến chất - đá phiến biotit, gneis và amphibolit thuộc hệ tầng Sin Quyền (PR sq). Trong vùng chứa quặng có các phức hệ xâm nhập granit Yê Yên Sun. Phức hệ granit - granosyenit bao gồm granosyenit biotit-amphibol, granit biotit và granit sáng màu. Quặng hóa thường nằm trong 2 loại đá granit biotit và granit sáng màu. Nhìn chung, phức hệ granit nói trên thuộc loại giàu kiềm, tỷ lệ K và Na thay đổi, thường K trội hơn Na, thậm chí 4-5 lần. Trong đới tiếp xúc trong và ngoài của các đá xâm nhập phát triển các hệ thống mạch thạch anh, thạch anh - felspat - fluorit với molybđenit phân bố theo 2 phương TB-ĐN và ĐB-TN. Trong các điểm quặng nói trên thì các điểm quặng Sin Chảy, Ô Quý Hồ có triển vọng hơn cả. Tại đây đã phát hiện được 6 vết lộ có khoáng hóa molybđen trên đường ô tô Sa Pa đi Bình Lư. Những mạch thạch anh có molybđenit chủ yếu nằm ở rìa (đới tiếp xúc trong) của granit biotit và một phần nằm trong đá trầm tích biến chất tiếp giáp với granit biotit (đới tiếp xúc ngoài). Loại mạch đầu thường có chiều dày 0,2-0,5 m, đôi khi vài mét. Molybđenit dạng vẩy ổ xâm tán trong granit và rìa mạch. Loại sau có chiều dày nhỏ hơn, thường 0,1-0,2 m. Molybđenit dạng vẩy nhỏ đặc sít và xâm tán trong đá vây quanh tiếp giáp với mạch. Thành phần quặng chủ yếu là các khoáng vật sulfur như pyrit, chalcopyrit và bismutin; rất ít molybđenit. Khe nứt phổ biến là loại khe nứt tách dạng uốn lượn, mặt khe nứt gồ ghề. Thân quặng có dạng mạch, mạng mạch. Hàm lượng Mo: <0,1-0,57%; Cu: 0,01-0,24%; Bi: <0,01-0,65%, một vài mẫu cá biệt có Bi đến 3,35%. Có thể nhận thấy rằng hàm lượng Mo tỷ lệ nghịch với Bi, có nghĩa là ở chỗ giàu Mo thì nghèo Bi và ngược lại.

Các điểm quặng vùng Sa Pa thường gặp hiện tượng thạch anh hoá các đá vây quanh. Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là molybđenit, pyrit; thứ yếu và ít gặp có chalcopyrit, melnikovit, bismutin, sphalerit, pyrrotin, hematit, magnetit. Khoáng vật mạch chủ yếu là thạch anh, felspat, ít hơn có fluorit.


Bảng 1. Hàm lượng một số kim loại trong mạch quặng thạch anh - molybđenit Sa Pa

Số hiệu mẫu

Mo(%)

Cu(%)

Bi(%)

SP01

0,57

0,03

0,01

SP02

0,56

0,02

0,01

SP03

0,13

0,07

0,01

SP04

0,13

0,055

0,01

SP05

0,0052

0,003

0,01

SP06

0,034

0,015

3,35

SP07

0,0092

0,002

0,65

SP08

0,0032

0,003

0,5

SP09

0,003

0,025

0,01

SP10

0,32

0,024

0,01

SP11

0,27

0,24

2,75

SP12

0,11

0,22

2,25

SP13

0,11

0,13

0,055

Phân tích tại Trung tâm Phân tích Thí nghiệm Địa chất, Cục ĐC & KS VN.

 


Quặng có cấu tạo phổ biến là xâm tán. Quá trình tạo quặng gồm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn thạch anh - molybđenit, là giai đoạn tạo quặng chính.

- Giai đoạn thạch anh - sulfur. Sản phẩm có giá trị của giai đoạn 2 là Bi.

Ở Núi Sam (An Giang), các mạch thạch anh - molybđenit nằm ngay trong khối granit. Đó là loại granit biotit sáng màu, thành phần chủ yếu: thạch anh (30-40%), felspat kali, plagioclas - albit, biotit và một lượng nhỏ các khoáng vật sericit, chlorit, zoisit, fluorit, zircon, rutil, sphen, ilmenit, apatit, magnetit, hematit. Plagioclas-albit có số hiệu 0-7. Granit có nhiều loại khác nhau cỡ hạt từ nhỏ đến lớn. Thuận lợi nhất cho khoáng hoá molybđen là granit granophyr. Các mạch quặng thường gặp là những mạch thạch anh - felspat có độ dốc lớn với bề dày từ vài cm đến vài chục cm. Thành phần khoáng vật trong các mạch quặng như sau:

- Khoáng vật chủ yếu: molybđenit.

- Khoáng vật thứ yếu và hiếm gặp: pyrit, chalcopyrit, bismutin, cosalit, galenit, sphalerit, pyrrotin, magnetit, hematit, ilmenit, ilmenorutil, cassiterit, microlit.

- Khoáng vật mạch: thạch anh, felspat, đesmin


Bảng 2. Thành phần hoá học của bismutin và cosalit xác định bằng phương pháp vi dò (%)

NT

KV

Bi

Pb

Cu

Sb

S

Bismutin

79,82

1,58

0,40

 

18,6

Cosalit

43,45

38,44

0,48

0,83

16,34

Phân tích tại Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản

 


Quặng được thành tạo ở 2 giai đoạn chính:

1) Giai đoạn thạch anh - felspat - molybđenit. Molybđenit là khoáng vật quặng chủ yếu. Giữa các vẩy molybđenit có cassiterit hạt nhỏ (1-2 mm) màu nâu. Đá vây quanh mạch quặng bị biến đổi nhiệt dịch thạch anh hoá, greisen hoá.

2) Giai đoạn thạch anh - sulfur. Khoáng vật có ý nghĩa tạo khoáng trong giai đoạn này là bismutin, bismut tự sinh, galenobismut và cosalit. Hàm lượng trung bình của Bi trong các mạch thạch anh là 0,2%. Khoáng hoá giai đoạn này phát triển mạnh ở tây và phía đông khối granit Núi Sam kèm theo biến đổi nhiệt dịch đá vây quanh có sericit hoá, chlorit hoá khá phổ biến. Khoáng hoá molybđen có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ cao có liên quan với granit biotit sáng màu tuổi Mesozoi muộn - Kainozoi.

II. KIỂU QUẶNG MOLYBĐENIT - WOLFRAMIT

Đặc trưng kiểu khoáng hoá này là điểm quặng ở Núi Đất. Các mạch quặng phân bố trong đá phiến màu đen bị sừng hoá mạnh: đới đá sừng phát triển khá rộng. Tiếp giáp với các đá phiến bị sừng hóa là các đá điabas thạch anh, bazan porphyrit và đacit porphyr. Xa hơn ở trong vùng có granit biotit dạng porphyr thuộc phức hệ Cà Ná.

Các mạch quặng là những mạch thạch anh nhỏ có bề dày nhỏ từ vài đến 10 cm, xuyên cắt đới đá sừng bị dập vỡ kiến tạo mạnh. Các mạch này tạo thành hệ thống mạch theo hướng TB-ĐN với độ dốc trung bình (500).

Thành phần khoáng vật các mạch quặng gồm có:

 - Khoáng vật chủ yếu: wolframit, sheelit và molybđenit

- Khoáng vật thứ yếu và ít gặp: pyrit, chalcopyrit, pyrrotin, arsenopyrit, ilmenit, sphalerit,   cassiterit.

Thành phần hoá học của bismutin được xác định bằng phương pháp vi dò:

Bi: 80,14%,  Cu: 0,19%,  S: 18,85%

Tập hợp khoáng vật trên được tạo thành ở 2 giai đoạn:

- Giai đoạn thạch anh - molybđenit: molybđenit dạng vẩy nhỏ thường phát triển ở hai bên rìa của mạch thạch anh.

- Giai đoạn thạch anh - wolframit - sheelit: wolframit khá phổ biến dạng tinh thể lớn hình tấm, thanh khá tự hình, kích thước 4-5 mm. Đi kèm wolframit có sheelit dạng hạt nhỏ tha hình kết hợp xen kẽ thay thế cho wolframit. Sự có mặt của khoáng vật này chứng tỏ dung dịch tạo quặng được tăng cường thành phần calci. Đá vây quang bị biến đồi thạch anh hoá và greisen hóa. Đá phiến bị sừng hoá tạo nên đới đá sừng khá rộng.

Các mạch quặng W-Mo Núi Đất có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ cao, phân bố ở ngoại tiếp xúc của khối granit. Về quan hệ có lẽ có liên quan với granit biotit dạng porphyr phức hệ Cà Ná tuổi Meso-Kainozoi. Tập hợp khoáng sản chính của kiểu khoáng hoá này là Mo và W; ngoài ra cũng cần chú ý đến Sn (cassiterit).

III. KIỂU QUẶNG MOLYBĐENIT - URANINIT

Những biểu hiện của kiểu quặng này ít gặp, hiện mới gặp trong các thành tạo biến chất của móng kết tinh Proterozoi. Đới quặng nằm trong phạm vi phân bố của các thành tạo quặng Cu kiểu Sin Quyền. Kiểu quặng Mo-U gặp ở các vùng Vi Kẽm, Nặm Mít và Nặm Pung. Vùng quặng cấu tạo từ các đá biến chất bao gồm các đá granitogneis, đá phiến biotit, thạch anh - mica. Trong vùng còn gặp những đai mạch plagiogranit, granit á kiềm và granit sáng màu. Thân quặng có dạng mạch mạch, ổ, thấu kính có bề dày 0,5 - 3 m, tập trung trong các đới đập vỡ và mylonit hoá có hướng TB-ĐN. Biến đổi đá vây quanh thường gặp là albit hóa, biotit hóa, sericit hoá, carbonat hoá. Thành phần khoáng vật quặng:

- Thạch anh - felspat với molybđenit, uraninit;

- Thạch anh - carbonat - sulfur;

- Carbonat - baryt - sulfur.

 Quặng hoá của kiểu quặng molybđenit-uraninit có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ cao, liên quan với granit kiềm phức hệ Phan Si Pan (Paleogen).

IV. KIỂU QUẶNG MOLYBĐENIT - CHALCOPYRIT

Đặc trưng cho kiểu khoáng hoá này ỏ Việt Nam là những mạch quặng ở vùng Krông Pha. Các mạch quặng nằm trực tiếp trong các đá granit biotit, granit biotit có hornblenđ, granođiorit. Granit cỡ hạt lớn màu trắng xám, lượng biotit nhiều hơn một ít so với granit Núi Sam. Thành phần thạch học của đá chủ yếu là: thạch anh, oligoclas, anđesin, felspat kali, biotit và một ít hornblenđ. Ngoài ra còn gặp các khoáng vật phụ như apatit, zircon, sphen, zoisit, cassiterit, orthit, epiđot và các khoáng vật quặng khác. Phân tích quang phổ thấy granit có chứa các nguyên tố phụ Cu, Mo, Sn, Pb với hàm lượng đáng kể. Tuổi tuyệt đối của đá granit Krông Pha vào khoảng 100-190 Tr.n..


Bảng 3. Đặc điểm chung các kiểu quặng molybđen ở Việt Nam

Kiểu

quặng

Đặc

điểm

Thạch anh - molybđenit

Molybđenit - wolframit

Molybđenit - uraninit

Molybđenit - chalcopyrit

Khoáng vật đặc trưng

Molybđenit, pyrit, chalcopyrit, bismutin, bismut tự sinh, cosalit galenobismut

Molybđenit, wolframit, sheelit, bismutin galeno- bismut, bismut tự sinh

Molybđenit, uraninit, chalcopyrit, pyrit, magnetit

Molybđenit, chalcopyrit, cosalit

Nguyên tố tiêu biểu

Mo, Cu, Bi, Re, Se

Mo, W, Bi, Re, Sn

Mo, Cu, Bi, Re, Se

Mo, Cu, Bi, Re, Se

Cấu tạo quặng

Xâm tán, ổ

Xâm tán, mạch

Xâm tán

Xâm tán

Đá vây quanh và tuổi của chúng

Các thành tạo biến chất PR, granit-granosyenit E, granit biotit

Đá sừng, bazan porphyrit, đacit porphyrit, spilit, keratophyr, granit

Đá biến chất PR plagiogranit, granit P

Plagiogranit, monzonit K

Biến đổi vây quanh quặng

Albit hóa, thạch anh hóa, greisen hoá, chlorit hoá sericit hoá

Thạch anh hoá, muscovit hoá

Albit hoá, thạch anh hoá, biotit hoá, carbonat hoá

Fespat hoá, albit hoá, thạch anh hoá, chlorit hoá

Quan hệ với magma

Granit sáng màu MZ3 - KZ

Granit biotit J-K

Granit kiềm P

Monzonit K

Tập hợp khoáng sản

Mo, Cu, Bi, Re

Mo, W, Bi

Mo, U, Cu

Mo, Cu, Re, Se

Nguồn gốc

Khí hóa - nhiệt dịch nhiệt độ cao