PHÂN TÍCH CÁC ĐẶC ĐIỂM ĐỊA ĐỘNG LỰC HIỆN ĐẠI
KHU VỰC BIỂN ĐÔNG
NGÔ THỊ LƯ1, ROGOZHIN E.A2
1Viện Vật lý Địa cầu, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Viện Vật lý Trái đất, Viện Hàn lâm Khoa học Nga
Tóm tắt: Trên cơ sở áp dụng các phương pháp phân tích tổ
hợp các tài liệu địa chất - địa vật lý, địa mạo, địa chấn và các tài liệu đo
viễn thám (GPS) đã xem xét đồng thời với sự so sánh chế độ địa động lực tại các
bồn trũng biển khác nhau như biển Đen, Ađriat, Caspi, Ligury, Tirren và biển
Đông. Bài báo đã làm sáng tỏ mối quan hệ tương hỗ không gian và sự chuyển tiếp
giữa tất cả các giai đoạn biểu hiện của chế độ lún chìm cũng như giữa chế độ
lún chìm và chế độ thềm một cách rõ ràng và đơn trị. Ngoài ra, đã làm sáng tỏ
mối liên quan giữa các quá trình địa động lực hiện đại và địa động lực cổ, các
đặc điểm của tính địa chấn dưới nước đối với khu vực biển Đông. Các kết quả
nhận được cho thấy trong phạm vi khu vực nghiên cứu đã diễn ra tất cả các chu
kỳ biểu hiện của chế độ lún chìm, tuy nhiên một trong những chu kỳ chủ đạo
trong chúng chiếm gần 50% tổng diện tích của nó. Đó là chu kỳ T3, trong phạm vi
biểu hiện của nó, sự vát mỏng chiều dày của vỏ Trái đất khoảng từ 10 đến 15 km.
Chu kỳ này phân bố chủ yếu trong giới hạn các bồn trũng Biển Đen, Tirren và
Biển Đông. Biểu hiện của các chu kỳ còn lại rất khác nhau đối với các bồn trũng
khác nhau. Đặc biệt, các chu kỳ hoạt động hiện đại T5 và T6 chỉ đại diện cho
các bồn trũng Biển Đông.
I. MỞ ĐẦU
Trong thời gian hiện nay, các nghiên cứu địa động
lực hiện đại với việc áp dụng các phương pháp mới phân tích địa chấn kiến tạo
trong giới hạn các vùng dịch chuyển ®·
biÕt của Châu Á hoàn toàn chưa được tiến hành ở Việt
II. CÁC ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC KIẾN TẠO
Các
đặc trưng cơ bản của cấu trúc kiến tạo Việt
Dọc
theo quốc lộ từ Hà Nội đến châu thổ sông Mê Công theo hướng gần như kinh tuyến
xuyên suốt chiều dài lãnh thổ Việt Nam, đã quan sát được đặc trưng thay đổi của
các cấu trúc uốn nếp, đứt gãy trong các vùng kiến tạo khác nhau. Những ấn tượng
đó đã giúp nhóm tác giả hình thành nên những khái niệm về các đặc điểm của quá
trình biến dạng trong các tầng đá gốc và trầm tích bở rời.
Ở
đầu lộ trình, từ Hà Nội đến đới ophiolit Sông Mã đã quan sát được sự uốn nếp
thoải kiểu răng lược trong đá vôi tuổi Trias giữa. Các nếp uốn được đặc trưng
bởi trục có hướng gần vĩ tuyến, còn các đới phá huỷ đứt gãy lớn thì có hướng
kéo dài chủ yếu theo phương tây bắc. Một trong các đới đứt gãy phá huỷ lớn ở
miền Bắc Việt
Trong
địa phận miền Trung, phổ biến các tầng đá tuổi Paleozoi: đá phiến sét và biến
chất tuổi Paleozoi sớm, cũng như đá vôi tuổi Đevon bị xếp thành những nếp uốn
hẹp dốc đứng và các nếp uốn đơn dạng nghiêng thoải về phía bắc. Các tầng đá kể
trên bị các thể granit nhỏ tuổi Paleozoi xuyên cắt. Những đới phá huỷ kiến tạo
này chủ yếu có hướng gần như kinh tuyến.
Tiếp
về phiá nam, tại 15,50 B, bắt đầu gặp một phức hệ đá của nền cổ hoạt
hoá. Móng nền gồm các đá phiến kết tinh, gneis tuổi Archei và Proterozoi, bị
xuyên cắt bởi nhiều thể granitoiđ tuổi Proterozoi. Sự biến dạng trong móng nền
rất phức tạp, đặc trưng đối với tầng biến chất cao. Tầng phủ bị phức tạp hóa
bởi các đá núi lửa thành phần khác nhau tuổi Paleozoi muộn và Trias, các tầng
trầm tích lục nguyên tuổi Jura sớm-giữa, các đá núi lửa tuổi Jura muộn, Creta
và Neogen - Đệ tứ. Biến dạng trong tầng phủ nền biểu hiện yếu. Các lớp đá bị
phá huỷ uốn thành những nếp thoải rộng kiểu
nền, góc dốc của cánh không vượt quá 10-150. Các đứt gãy lớn kéo dài
theo hướng đông bắc, đôi chỗ là hướng kinh tuyến.
Theo
hướng nam, các đá cổ của móng nền không còn lộ trên bề mặt, thay vào đó vai trò
của tầng phủ nền ngày càng lớn hơn. Các hệ tầng của đới phía nam, cả đá trầm
tích lẫn đá núi lửa, đều bị nhiều thể đá xâm nhập thành phần granitoiđ có tuổi
từ Proterozoi đến Mesozoi - Kainzoi xuyên cắt.
Ba
đới kiến tạo được phân chia, có thể coi là Caleđonit (Paleozoi hạ) ở miền Bắc,
Hercynit (Paleozoi thượng) ở miền Trung và cuối cùng là đới nền hoạt hoá ở miền
Nam.
Các
đới đứt gẫy lớn biểu hiện trong một số trường hợp như đới ophiolit (đới Sông
Mã), còn trong các trường hợp khác - bằng các trũng dạng tuyến hẹp, được các
trầm tích vụn tuổi Neogen - Đệ tứ lấp đầy (đứt gẫy Sông Gianh), hay đứt gẫy
Sông Đà Rằng. Các đới đứt gẫy cổ lớn như vậy phần nhiều vẫn đang hoạt động
trong giai đoạn hiện đại và có khả năng gây ra các trận động đất mạnh và vừa [3]. Tính đến thành phần rắn
của các đá cổ của cả ba đới kiến tạo (đúng hơn là ba miền kiến tạo), cũng như
sự phổ biến của các hệ tầng đá cổ trên mặt đất, các trận động đất này có thể có
chấn cấp (magnitude) lớn và có chấn tiêu lộ ra ngoài mặt đất. Do vậy trên lãnh
thổ Việt
III. CÁC DẪN LIỆU VỀ CHUYỂN ĐỘNG HIỆN ĐẠI CỦA BỀ MẶT TRÁI ĐẤT
Trong
những năm gần đây đã xuất hiện khả năng làm sáng tỏ tốc độ và hướng của các
dịch chuyển ngang hiện đại của vỏ Trái đất bằng phương pháp trắc địa viễn thám
(GPS) [4,
5, 10, 11].
Gatinski cùng với nhóm đồng tác giả đã xếp Việt
IV. TRẠNG THÁI NỘI SINH (ĐỊA ĐỘNG LỰC) HIỆN
ĐẠI LÃNH THỔ VIỆT
Từ
các tài liệu đã biết, thực tế trên toàn lãnh thổ Việt Nam phát triển vỏ kiểu
lục địa, ở phần phía tây với chiều dày khoảng 40 km, ở phía đông gần bờ và trên
thềm biển Đông vỏ mỏng đi còn khoảng 25 km, còn ở phần trung tâm biển mở vỏ
mang các đặc trưng đại dương với chiều dày khoảng 10 km. Các nghiên cứu của
chúng ta đã cho phép chi tiết hoá tính khu vực của vỏ Trái đất ở phần bờ đông
Việt Nam, cũng như ở phần thềm và ngoài khơi.
Vào
những năm 90 của thế kỷ XX phương pháp phân loại vỏ Trái đất bằng tổ hợp nhiều
dấu hiệu đã được Reisner, nhà địa chấn người Nga đề xuất. Trên cơ sở phương
pháp này, đã có khả năng hiện thực hoá nhiều cách tiếp cận mới để giải quyết
hàng loạt các vấn đề cơ bản của địa chất kiến tạo cũng như các nhiệm vụ ứng
dụng khác. Trong số các vấn đề cơ bản trước hết cần phải nhắc tới vấn đề làm
sáng tỏ chế độ nội sinh hiện đại (địa động lực hiện đại) và phân vùng các cấu
trúc kiến tạo khác nhau, mà chủ yếu là trong giới hạn lục địa [12, 14]. Còn các nhiệm vụ ứng
dụng chính là dự báo độ nguy hiểm động đất, phát hiện, tìm kiếm các vùng chứa
dầu khí, xác định sự phát triển của các yếu tố nội sinh của các quá trình địa
mạo. Trước đây, trong nhiều công trình đã xem xét trạng thái nội sinh của một
số vùng trũng chuyển tiếp của phần trong biển Địa Trung Hải cũng như phần rìa
biển khu vực phía tây vành đai Thái Bình Dương [13, 16]. Trong bài báo này chúng
ta sẽ xem xét chi tiết và toàn diện hơn các cấu trúc của khu vực biển Đông
thuộc vùng chuyển tiếp Thái Bình Dương.
Để
giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, các tài liệu gốc đặc trưng cho cấu tạo và
trạng thái hiện đại của vỏ Trái đất đã được hệ thống hoá lại. Chúng bao gồm 5
dấu hiệu: mật độ dòng nhiệt (Q), chiều dày vỏ Trái đất (T), độ cao của địa hình
hiện đại (R), độ sâu thế nằm của móng kết tinh (F) và độ thiếu hụt (khiếm
khuyết) chiều dày vỏ Trái đất (DT). Cũng đã xem xét cả các tài liệu gốc về các
bể trầm tích lục nguyên dưới biển với tư cách là các tài liệu so sánh bổ trợ [12, 14].
Đối
tượng miêu tả tổ hợp địa chất - địa vật lý chính là các ô yếu tố của lưới toạ
độ với kích thước 20’ × 30’. Việc phân loại vỏ Trái đất, như trong tất cả các
công trình trước đây, được tiến hành bằng cách áp dụng thủ thuật phân tích đặc
biệt. Để giải thích đã chọn bước thứ 5 của thủ thuật, trong đó đã chia ra 40
loại và phụ loại (thứ cấp) vỏ Trái đất [14].
Thông
tin đặc trưng cho các kiểu vỏ sẽ cho khả năng xếp nó thuộc vào một loại chế độ
địa động lực nhất định nào đó. Một tập hợp nào đó các thuộc tính của vỏ Trái
đất phản ánh đặc trưng của các quá trình diễn ra trong nó và chứng minh về
khuynh hướng tiến hoá của nó [12, 13, 14] được hiểu là một chế độ địa động lực
của vỏ. Khi đó, 3 tham số: mật độ dòng nhiệt, độ thiếu hụt chiều dày (hay là độ
vát mỏng) của vỏ Trái đất và độ cao của địa hình hiện đại là 3 đặc trưng cơ bản
nhất.
Các
dấu hiệu cơ bản biểu hiện chế độ lún chìm là sự có mặt trong cấu trúc vỏ Trái
đất những vát mỏng chiều dày của nó (DT). Như đã chỉ ra trong công trình của
Reisner [12, 14] đối với các vùng với độ cao địa hình nhỏ hơn 0,4 km, nó tương
ứng với hiệu giữa giá trị nhỏ nhất, đặc trưng cho các vùng thềm (với chiều dày
vỏ Trái đất khoảng gần 37 km), và giá trị thực của nó.
Trong
phạm vi biểu hiện chế độ lún chìm (T) ở khu vực nghiên cứu đã phân ra 6 giai
đoạn phát triển của nó trong sự phụ thuộc vào các đại lượng DT: T1 (0 < DT
< 5 km), T2 (5 km < DT < 10 km), T3 (10 km < DT< 15 km), T4 (15
km < DT< 20 km), T5 (20 km < DT< 24 km) và T6 (DT > 25 km). Các
cấp đã lựa chọn theo giá trị DT khá ước định nhưng nói chung là chúng tương ứng
với độ chính xác của việc xác định tham số chiều dày vỏ Trái đất.
Trong
khu vực biểu hiện chế độ tạo núi (O) đã phân ra 3 giai đoạn phát triển của nó
trong sự phụ thuộc vào độ cao địa hình: O1 – khi (0 < R £ 1,0 km); O2 khi (1,0 km < R £ 2,5 km); O3 khi (R >
2,5 km). Các chế độ hỗn hợp ở một giai đoạn tạo núi trước nào đó được thay bằng
giai đoạn lún chìm. Chẳng hạn, chữ viết tắt T3O1 (Bảng 1) có nghĩa là chế độ
tạo núi của giai đoạn phát triển thứ nhất được thay thế muộn hơn bằng chế độ
lún chìm, đến tận giai đoạn thứ 3 của quá trình phát triển nó.
Theo
độ lớn của giá trị mật độ dòng nhiệt, có thể chia ra một số pha năng lượng của
chế độ này hay khác. Pha thụ động (hay là pha chờ đợi) (Ph1) được đặc trưng bởi
các giá trị mật độ dòng nhiệt Q trong khoảng Q < 50 mVt/m2 (điều
này phù hợp với phần lớn các vùng thềm với tuổi khác nhau); pha chuyển tiếp
(Ph2) muộn hơn 50 mVt/m2 £ Q < 80 mVt/m2;
tích cực là 2 pha: Ph3 – 80 mVt/m2 < Q £ 120
mVt/m2 và Ph4 – Q > 120 mVt/m2.
Có
thể chia ra nhiều dạng khác nhau của chế độ địa động lực hiện đại. Tuy nhiên,
chủ yếu có 4 kiểu cơ bản: chế độ thềm yên tĩnh và 3 chế độ kích thích – cũng là
thềm và 2 kiểu với hướng tác động lên vỏ Trái đất đối ngược nhau: gắn kết (tạo
núi) và phá huỷ (lún chìm).
Trong
Bảng 1 dẫn ra các thông tin đặc trưng cho các chế độ địa động lực trong tất cả
bồn trũng dưới đáy biển xem xét.
Từ các bồn trũng biển đã xem xét, ta thấy lòng chảo
sâu của biển Đông là bồn trũng có diện tích lớn nhất. Chế độ địa động lực kiểu
T6Ph2 chiếm toàn bộ phần trục đông của nó với hướng kéo dài theo phương đông
bắc. Vùng không gian đó định hướng chủ yếu theo hướng á kinh tuyến, song song
với đảo
Bảng 1. Các chế độ địa động
lực hiện đại tại các bồn trũng trong và ven
biển
|
Các bồn trũng |
Số lượng các ô |
Kiểu chế độ |
Diện tích bị chiếm (%) |
Chế độ chung |
|
Biển Đen |
281 |
PPh1 |
13,2 |
T2Ph1 |
|
|
|
PPh2 |
2,5 |
|
|
|
|
T1Ph1 |
2,8 |
|
|
|
|
T1Ph2 |
7,8 |
|
|
|
|
T2Ph1 |
18,9 |
|
|
|
|
T3Ph1 |
47,7 |
|
|
|
|
T3Ph2 |
7,1 |
|
|
Ađriat |
86 |
PPh1 |
59,0 |
PPh1 |
|
|
|
PPh2 |
2,0 |
|
|
|
|
T1Ph1 |
29,1 |
|
|
|
|
T1Ph2 |
4,7 |
|
|
|
|
T2Ph1 |
2,0 |
|
|
|
|
T3Ph2 |
1,2 |
|
|
|
|
T3O1Ph2 |
1,2 |
|
|
Caspi |
161 |
PPh1 |
80,7 |
PPh2 |
|
|
|
PPh2 |
16,8 |
|
|
|
|
T1Ph1 |
2,5 |
|
|
Tirren |
74 |
T2Ph3 |
5,4 |
T3Ph3 |
|
|
|
T3Ph2 |
43,2 |
|
|
|
|
T3Ph3 |
4,0 |
|
|
|
|
T4Ph3 |
31,1 |
|
|
|
|
T3O1Ph2 |
16,2 |
|
|
Ligury |
127 |
T3Ph2 |
30,7 |
T4Ph2 |
|
|
|
T4Ph2 |
16,5 |
|
|
|
|
T4Ph3 |
47,2 |
|
|
|
|
T3O2Ph2 |
5,6 |