ĐIỀU KIỆN NHIỆT ĐỘ - ÁP SUẤT THÀNH TẠO ĐÁ HOA CHỨA ĐÁ QUÝ

VÙNG MỎ LỤC YÊN

NGUYỄN THỊ MINH THUYẾT, NGỤY TUYẾT NHUNG, NGUYỄN NGỌC KHÔI
Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Các đá quý như rubi, saphir, spinel vùng mỏ Lục Yên chủ yếu được khai thác ở dạng sa khoáng. Tuy nhiên, nguồn cung cấp chính là từ đá hoa hệ tầng An Phú. Các kết quả phân tích cho thấy đá hoa calcit, calcit-đolomit chứa đá quý mỏ Lục Yên thuộc hệ hóa học KCMASH, đặc trưng bằng hai tổ hợp khoáng vật cộng sinh là corinđon + calcit + phlogopit + amphibol và spinel + amphibol + phlogopit + forsterit + đolomit ± calcit ± clinohumit ± corinđon. Các khoáng vật cộng sinh với corinđon và spinel đều thuộc loại giàu nhôm và magnesi. Phân tích các tổ hợp khoáng vật cộng sinh với corinđon, spinel và tính toán các điều kiện phản ứng biến chất để hình thành chúng cho thấy tổ hợp chứa spinel hình thành trong điều kiện nhiệt độ từ 593 đến 787oC, còn tổ hợp chứa corinđon hình thành trong khoảng nhiệt độ thấp hơn (từ 550 đến 693oC). Áp suất thành tạo của cả 2 tổ hợp trên khoảng 5,5 kbar.


I. GIỚI THIỆU

Hệ tầng An Phú (NP-e1 ap) do Hoàng Thái Sơn xác lập năm 1998 [6] bao gồm chủ yếu đá hoa calcit xen đá hoa calcit-đolomit. Hệ tầng này tạo thành một dải kéo dài theo hướng TB-ĐN, nằm chỉnh hợp trên đá phiến thạch anh - mica của hệ tầng Thác Bà (NP tb), được xếp vào loạt Sông Chảy và thuộc đới cấu trúc Lô-Gâm. Trong đá hoa gặp rubi, spinel, hầu như không gặp saphir và tổ hợp khoáng vật đi cùng corinđon, spinel là khác nhau.

Hiện nay, có hai quan điểm về điều kiện thành tạo của đá quý trong đá hoa hệ tầng An Phú, đó là biến chất khu vực và biến chất trao đổi liên quan đến các phức hệ xâm nhập kiềm, á kiềm trong vùng. Tuy nhiên, tới nay các phức hệ xâm nhập đã được xác lập trong khu vực có tuổi không phù hợp với thời gian hình thành của đá quý.

Các tác giả Bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1/50.000 nhóm tờ Lục Yên Châu [12] xếp chúng cùng với đá phiến của hệ tầng Thác Bà vào loạt Sông Chảy và cho rằng chúng trải qua hai loạt biến chất phát triển độc lập, chồng chéo nhau. Loạt đầu thuộc phần thấp tướng epiđot-amphibolit (khoảng 550oC). Loạt thứ hai thuộc biến chất vòm nhiệt tướng epiđot-amphibolit (khoảng nhiệt độ 600oC, áp suất nhỏ hơn 6,5 kbar). Còn đá quý hình thành do quá trình biến chất trao đổi (dọc tiếp xúc với các xâm nhập axit kiềm giàu nhôm). Hoàng Thái Sơn [6], trong Báo cáo Địa chất và khoáng sản nhóm tờ Đoan Hùng - Yên Bình đã xếp các đá của hệ tầng An Phú vào tướng biến chất epiđot-amphibolit. Theo Nguyễn Kinh Quốc và nnk [11], rubi, spinel hình thành do quá trình skarn giữa đá vôi calcit, đolomit với các thân pegmatit và xâm nhập granit, granosyenit. Phạm Văn Long [15] cho rằng corinđon được thành tạo trong quá trình biến chất nhiệt động ở tướng amphibolit (nhiệt độ của môi trường trong khoảng 630-745oC), với sự tham gia tích cực của các hoạt động biến chất trao đổi. W. Hofmeister [7] cho rằng corinđon, spinel trong đá hoa hình thành trong điều kiện nhiệt độ trên 700oC, áp suất lớn hơn 7 kbar. C. A. Hauzenberger và nnk [2, 3] đã xếp đá hoa chứa spinel, corinđon vùng Lục Yên vào đới cấu trúc Dãy Núi Con Voi và xác định chúng hình thành trong tướng granulit (nhiệt độ thấp nhất là 700oC). Bhuwadol Wanthanachaisaeng và nnk. [19] dựa trên sự thay đổi của các dải phổ phát quang Cr+3 trong tinh thể corinđon đã xác định chúng hình thành trong điều kiện áp suất khoảng 1,5 kbar (nền là 1,2 kbar).

Bài báo này trình bày các kết quả phân tích đặc điểm thạch học, tổ hợp khoáng vật cộng sinh với corinđon, spinel, từ đó xác định trường nhiệt độ, áp suất thành tạo của chúng.

II. ĐẶC ĐIỂM THẠCH HỌC CỦA ĐÁ HOA CHỨA ĐÁ QUÝ HỆ TẦNG AN PHÚ

1. Thành phần hóa học

Từ kết quả phân tích thành phần hóa học (Bảng 1) của đá hoa chứa corinđon, spinel hệ tầng An Phú có thể thấy đá chứa corinđon có hàm lượng nhôm, phosphor, fluor trội hơn và magnesi thường thấp hơn đá hoa chứa spinel. Với thành phần như trên có thể xếp chúng vào hệ hóa học KCMASH.


Bảng 1. Thành phần hóa học của đá hoa chứa corinđon và spinel hệ tầng An Phú
(phân tích bằng phương pháp huỳnh quang tia X tại Viện Địa chất, Greifswald, Đức)

Ký hiệu mẫu

SiO2

(%)

TiO2

(%)

Al2O3

(%)

Fe2O3

(%)

MnO

(%)

MgO

(%)

CaO

(%)

Na2O

(%)

K2O

(%)

P2O5

(%)

F

(%)

H2O-

(%)

Tổng

(%)

Cr

(ppm)

V

(ppm)

Đá hoa chứa corinđon

AP4

0,42

0,118

3,60

0,49

0,005

0,77

51,80

0,04

0,02

0,018

0

0,25

57,54

32

< 12

LY101

1,42

0,051

2,43

0,17

0,008

1,80

51,05

0,13

0,16

0,020

0

0,21

57,46

18

12

Đá hoa chứa spinel

LY140

1,42

0,044

1,39

0,18

0,009

1,35

52,26

0,09

0,06

0,050

0

0,23

57,08

15

< 12

LY120

3,29

0,020

1,18

0,17

0,022

10,41

42,72

0,06

0,01

0,068

0,1

0,14

58,16

77

13

2. Thành phần khoáng vật và tổ hợp khoáng vật cộng sinh đặc trưng

Đá hoa chứa đá quý hệ tầng An Phú bao gồm các dạng thạch học sau:

a. Đá hoa calcit: Đá màu trắng, kiến trúc hạt biến tinh, không đều, kích thước từ nhỏ đến lớn. Nhìn mắt thường thấy tập hợp khoáng vật calcit, corinđon, phlogopit, amphibol, margarit. Phân tích roengen cho kết quả đá hoa calcit chứa corinđon thường có amphibol, phlogopit, margarit, chlorit, graphit, và muscovit. Phân tích trên lát mỏng thạch học thấy tổ hợp cộng sinh (THCS) đặc trưng cho loại đá này là calcit + corinđon + amphibol + phlogopit.

Corinđon: tinh thể từ tự hình đến tha hình, kích thước rất thay đổi từ nhỏ hơn 1 mm đến vài centimet. Phát triển hiện tượng song tinh đa hợp. Phân tích lát mỏng thạch học thấy corinđon thường cộng sinh cùng calcit, amphibol, phlogopit, đôi khi là anorthit, margarit và chlorit. Kết quả phân tích vi dò (Bảng 2) cho thấy chỉ số Al từ 1,9969 đến 1,9823, hàm lượng chrom từ 0 đến 1,201, titan từ 0,011 đến 0,120, sắt từ 0 đến 0,076. Ngoài ra, có các nguyên tố P, Si,.. tồn tại ở dạng tạp chất..

Calcit: kết tinh tha hình, kích thước rất thay đổi từ nhỏ tới lớn. Trong lát mỏng thạch học, calcit cộng sinh với corinđon, amphibol, phlogopit, anorthit, đôi khi muscovit, margarit. Phân tích vi dò cho thấy chỉ số Ca biến đổi từ 0,9883 đến 0,9788, Mg từ 0,0187 đến 0,0021.

Amphibol: kết tinh tha hình, kích thước rất thay đổi (từ nhỏ hơn 1 mm đến hàng centimet), thường đi với corinđon, phlogopit, calcit, đôi khi là anorthit. Phân tích vi dò cho thấy chúng thuộc nhóm amphibol calcit loại giàu nhôm là khoáng vật pargasit (Bảng 2).

Mica: dạng vảy, thường tập trung thành từng đám. Kết quả phân tích vi dò cho thấy chúng là phlogopit, loại mica kiềm giàu magnesi.


Các ảnh thể hiện hình dạng và khoáng vật cộng sinh với corinđon

Bảng 2. Thành phần hóa học của các khoáng vật trong đá hoa chứa corinđon
(phân tích bằng phương pháp vi dò - EPMA)

 

Mẫu LY1-1

Mẫu LY1-2

Mẫu LY108

Co

Cc

Amp

Mar

Chl

Co

Mar

Cc

Co

 

SiO2

0,028

0,260

38,969

37,908

30,302

0

37,908

0,022

0,064

 

TiO2

0,120

0,000

1,370

0,029

0,041

0,011

0,029

0,023

0,055

 

Al2O3

99,023

0,104

24,163

49,111

28,029

98,290

49,111

0

99,379

 

Cr2O3

0,000

0,000

0,067

0,288

0,190

1,201

0,288