NHỮNG ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH - ĐỊA MẠO LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH TRƯỢT ĐẤT DỌC ĐOẠN ĐI QUA TỈNH QUẢNG BÌNH CỦA TUYẾN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH

HÀ VĂN HÀNH, HOÀNG NGÔ TỰ DO

Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

Tóm tắt: Trượt đất là một dạng tai biến thiên nhiên xảy ra tương đối phổ biến ở các vùng đồi núi Việt Nam, nhất là dọc các tuyến giao thông mới được xây dựng, và thường đưa đến các hậu quả rất nghiêm trọng. Hiện tượng trượt đất vừa chịu tác động của các yếu tố tự nhiên, đồng thời vừa chịu sự tác động của con người.

     Trên cơ sở phân tích đặc điểm địa hình - địa mạo, mức độ ổn định sườn dốc và quy luật phân bố các điểm trượt đất xảy ra dọc đoạn đi qua tỉnh Quảng Bình của tuyến đường Hồ Chí Minh, bài báo chỉ ra các vùng có khả năng trượt đất cao, đồng thời đề xuất một số giải pháp để việc phòng chống trượt đất đạt được hiệu quả.


MỞ ĐẦU

Trượt đất là một dạng tai biến thiên nhiên xảy ra tương đối phổ biến ở các vùng đồi núi nước ta. Đó là quá trình di chuyển các khối đất đá lớn theo một bề mặt và trong quá trình di chuyển ít xảy đổ vỡ hoặc đảo lộn tính nguyên khối của các khối trượt. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng trượt đất là do hoạt động của nước mặt và nước dưới đất gây ra quá trình rửa trôi ngầm và tiềm thực, làm suy yếu lực liên kết giữa khối đất trượt và thân sườn dốc. Quá trình trượt đất đã cung cấp nguồn vật liệu tạo nên dòng bùn - đá, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và cơ sở hạ tầng, đặc biệt là gây ách tắc giao thông.

Tuyến đường Hồ Chí Minh chạy dọc phía tây đất nước là con đường chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần vận chuyển kịp thời lương thực, vũ khí, nhân lực từ miền Bắc chi viện cho miền Nam. Trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay, Đảng và Nhà nước đã đánh giá được vai trò quan trọng của tuyến đường này nên ngày 5/4/2000 Thủ tướng Phan Văn Khải đã phát lệnh khởi công xây dựng tuyến đường. Đường Hồ Chí Minh có 3 chức năng chính là: quốc phòng, giao thông vận tải và giãn dân, tái định cư. Vì vậy, việc xây dựng tuyến đường Hồ Chí Minh song song với Quốc lộ 1A góp phần tạo nên mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, giải quyết được tình trạng ách tắc giao thông trong mùa mưa lũ, tạo điều kiện cho hành lang phía tây phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng.

Phía tây tỉnh Quảng Bình là vùng đồi núi hiểm trở, lại nằm trong vùng có nhiều thiên tai. Với lượng mưa lớn và tập trung vào một thời gian ngắn (từ tháng 9 đến tháng 12) kết hợp với ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và các loại hình thời tiết đặc biệt như: bão, áp thấp nhiệt đới... thường xảy ra ngập úng nghiêm trọng ở đồng bằng và trượt đất, lũ quét ở vùng đồi núi. Ngoài ra, khi tuyến đường hoàn thành sẽ có nhiều hộ dân cư đến sinh sống và quá trình phát triển kinh tế sẽ làm giảm diện tích lớp phủ thực vật, từ đó gây mất ổn định mái dốc và hiện tượng trượt đất có thể xảy ra ngày càng nghiêm trọng hơn.

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRƯỢT ĐẤT

1. Hiện tượng trượt đất và các kiểu trượt đất chính

a. Hiện tượng trượt đất: Trượt đất là hiện tượng di chuyển các khối đất đá trên sườn dốc theo một mặt trượt nào đó. Khối đất đá bị trượt gọi là thân khối trượt. Chiều rộng của thân khối trượt có thể tới hàng trăm mét, thể tích có khi tới hàng vạn mét khối hoặc hơn. Đặc điểm hình thái nổi bật của của một khối trượt là nó còn giữ được tính nguyên khối hoặc có thể bị rạn nứt, nhưng chưa đến mức vỡ ra. Do tác dụng của trọng lực và lực ma sát, đỉnh và chân khối trượt thường bị biến dạng chút ít. Tuy nhiên, trên bề mặt khối trượt, cây cối vẫn tồn tại và phát triển, nhưng thân cây có thể bị uốn cong hoặc xiêu vẹo nên được gọi là "rừng say". Đây được coi là dấu hiệu quan trọng để dự báo trượt đất sắp xảy ra ở một nơi nào đó [1].

b. Các kiểu trượt đất chính: Theo đặc điểm vận động của khối trượt, có thể phân chia thành 2 kiểu trượt đất:

- Trượt trôi: Khối trượt bắt đầu chuyển động từ phía chân rồi lan dần về phía đỉnh. Kiểu trượt này làm cho khối trượt trôi theo mặt sườn về phía chân dốc.

- Trượt đẩy: Chuyển động trượt bắt đầu từ đỉnh rồi do sức đẩy sinh ra từ trọng lực của phần trên khối trượt mà các bộ phận bên dưới phải vận động theo về phía chân sườn. Do lực ma sát giữa thân khối trượt và khối đá gốc rất lớn nên ở kiểu trượt đẩy này thường xuất hiện gò biến dạng rất đặc trưng tại chân khối trượt.

2. Các điều kiện dẫn đến hiện tượng trượt đất

Hiện tượng trượt đất xảy ra phổ biến ở nhiều nơi, nhưng nó chỉ xảy ra trong những điều kiện nhất định, khi có tình trạng mất cân bằng về trọng lực. Trạng thái này thường xảy ra khi lớp vỏ phong hoá dày, vật chất trên sườn dốc bị thấm đẫm nước, chân sườn bị hụt hẫng, vận động kiến tạo và cấu trúc địa chất thuận lợi... Cụ thể là:

- Những nơi có lượng mưa lớn và tập trung với cường độ cao thì nước mưa sẽ thấm vào đất làm tăng trọng lượng của tầng trên mặt và khi đạt đến bề mặt tầng không thấm nước sẽ gây nên hiện tượng xói ngầm. Nếu tầng không thấm nước là sét thì khi bị thấm nước, nó sẽ trở nên rất trơn và dễ gây ra trượt đất.

- Nếu trên bề mặt sườn dốc có hệ thống đứt gãy kiến tạo phát triển sẽ làm cho đất đá vụn nát, có nhiều khe nứt, tạo điều kiện cho nước thấm xuống làm giảm lực kháng cắt của đất đá, từ đó nguy cơ phát sinh trượt đất càng cao hơn.

- Điều kiện về cấu trúc và thế nằm của đá có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trượt đất. Khi các tầng đá có thế nằm cắm về phía thung lũng, tức là nghiêng theo chiều dốc của sườn thì trượt đất dễ xảy ra hơn.

- Địa hình cao, độ dốc và độ chia cắt ngang lớn sẽ tạo ra năng lượng địa hình lớn, là điều kiện thuận lợi cho các quá trình trượt đất có nguồn gốc trọng lực. Vận động kiến tạo hiện đại và các trận động đất cũng gây nên các tai biến trượt lở cộng sinh.

- Quá trình trượt đất còn chịu ảnh hưởng của các tác động nhân sinh như: cắt xén chân dốc khi làm đường giao thông, xây dựng các công trình có tải trọng lớn trên sườn dốc, khai thác mỏ bằng phương pháp nổ mìn, hoạt động của các phương tiện cơ giới...

II. KHẢ NĂNG TRƯỢT ĐẤT Ở VÙNG NGHIÊN CỨU

1. Đặc điểm địa hình - địa mạo liên quan đến trượt đất

Địa hình tỉnh Quảng Bình thấp dần từ tây sang đông, phía tây là dãy Trường Sơn với nhiều đỉnh núi cao trên 1.000 m, phía đông địa hình thấp dần nhưng do chiều ngang hẹp nên độ dốc địa hình ở Quảng Bình khá lớn. Theo cấu trúc địa hình - địa mạo, có thể chia Quảng Bình thành 4 vùng:

- Vùng núi ở phía tây có diện tích 522.624 ha, chiếm 65% diện tích tự nhiên. Phần lớn diện tích vùng này là các núi có độ cao 500-600 m cấu tạo bởi đá phiến biến chất, cát - bột kết. Các núi có độ cao trên 1.000 m được cấu tạo bởi đá xâm nhập, với các đỉnh nhọn, sườn dốc (độ dốc trung bình 25o), độ chia cắt sâu trung bình 250-500 m. Đặc trưng tiêu biểu nhất của vùng núi Quảng Bình là địa hình karst phân bố rộng rãi với 2 khối đá vôi rất lớn là Kẻ Bàng và Khe Ngang.

- Vùng đồi trung du có diện tích 161.775 ha, chiếm 20% diện tích tự nhiên, chạy dọc theo các thung lũng sông lớn như Rào Nậy, Kiến Giang; độ cao thay đổi từ 50 đến 250 m, độ dốc trung bình 3-8o và được cấu tạo bởi các trầm tích lục nguyên, đá biến chất. Do bị tác động mạnh của quá trình bóc mòn, rửa trôi nên địa hình có dạng mềm mại, thường là các quả đồi độc lập hoặc dãy đồi thấp dạng dải.

- Vùng đồng bằng duyên hải có độ cao nhỏ hơn 15 m với diện tích 88.561 ha, chiếm 11% diện tích tự nhiên và địa hình có nguồn gốc mài mòn - bồi tụ.

- Vùng cát ven biển chạy dài dọc phía đông của tỉnh, diện tích khoảng 32.140 ha, chiếm 4% diện tích tự nhiên, độ cao thay đổi từ vài mét cho đến vài chục mét, độ dốc lớn. Tại vùng này, do tác động của gió và nước, hiện tượng cát bay, cát lấp diễn ra rất mạnh.

Tuyến đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận tỉnh Quảng Bình có chiều dài tổng cộng là 402 km, bắt đầu từ Tân Ấp (giáp Hà Tĩnh) đến Khe Gát dài 97 km và tại đây tuyến đường chia ra 2 nhánh:

- Nhánh đông dài 121 km, chạy từ Khe Gát đến phía nam An Mã (giáp Quảng Trị), chủ yếu được xây dựng trên cơ sở nâng cấp Quốc lộ 15.

- Nhánh tây dài 184 km, bắt đầu từ Khe Gát đến phía nam Làng Ho (giáp Quảng Trị), được xây dựng trên cơ sở nâng cấp đường Trường Sơn cũ theo tiêu chuẩn cấp IV và V đường miền núi.

Hai nhánh đường này còn liên kết với nhau bằng các tỉnh lộ 10, 12, 16, 20, tạo nên hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh ở vùng phía tây tỉnh.

Tuyến đường từ Tân Ấp đến Khe Gát và chạy theo nhánh tây từ Khe Gát đến Làng Ho chủ yếu đi qua vùng núi rất hiểm trở với các đặc điểm địa hình - địa mạo cụ thể như sau:

- Đoạn từ Tân Ấp đến Khe Gát chạy qua địa hình có độ cao 200-300 m, độ chia cắt sâu dao động lớn, từ 20 đến 300 m/km2 (tại vùng đèo Đá Đẽo là 400 m/km2), độ chia cắt ngang dao động từ 1 đến 3 km/km2 (tại Khe Rinh là 5 km/km2), độ dốc trung bình 15-20o.

- Đoạn từ Khe Gát đến Làng Ho chạy qua địa hình có độ cao 500-600 m, cá biệt có nơi lên tới 1.000 m (đoạn đi qua xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch), độ dốc địa hình là 15-35o, độ chia cắt sâu lớn, từ 100 đến 300 m/km2 (một số đoạn đi qua xã Trường Sơn lên tới 600 m/km2). Độ chia cắt ngang thay đổi liên tục dọc theo tuyến đường. Ở xã Phúc Trạch là 1,5 - 3,0 km/km2, từ Sơn Trạch qua Tân Trạch giảm xuống còn 0,5 - 1,5 km/km2, ở địa phận xã Trường Sơn là 1,5 - 3,0 km/km2, nhưng đến xã Lâm Thủy và Kim Thủy độ chia cắt ngang giảm xuống chỉ còn khoảng 0,5 km/km2.

Độ dốc địa hình lớn, độ chia cắt sâu và chia cắt ngang lớn, cộng với các tác nhân khí hậu ẩm ướt, lượng mưa lớn tập trung trong thời gian rất ngắn (từ tháng 9 đến tháng 12), lớp vỏ phong hoá dày với thành phần có nhiều sét... là những điều kiện địa hình - địa mạo thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động trượt lở. Đặc biệt, việc thi công bạt mái taluy quá dốc khi xây dựng đường, phá hủy lớp phủ thực vật... có thể gây ra sự mất ổn định sườn và kích thích quá trình trượt lở xảy ra.

Riêng đoạn đường từ Khe Gát đến An Mã (nhánh đông) chủ yếu đi qua vùng đồi và đồng bằng - đồi với độ cao phổ biến 10-20 m, độ dốc địa hình trung bình 3-8o và chia cắt ngang từ 0,5 đến 1,0 km/km2. Tuy nhiên, vùng Troóc (Bố Trạch) và đoạn đi qua xã Trường Xuân (Quảng Ninh) có địa hình khá hiểm trở và được coi là một trong những vùng có nguy cơ trượt lở cao nhất của nhánh đông đoạn đi qua tỉnh Quảng Bình.

2. Mức độ ổn định sườn và khả năng trượt đất

a. Xác định sự ổn định của sườn dốc: Việc xác định nguyên nhân gây ra trượt đất ở các sườn dốc là công việc rất khó khăn. Trong thực tế, hầu hết các trường hợp trượt lở đều do nhiều nguyên nhân gây ra và hiếm khi chỉ do một nguyên nhân duy nhất. Xác định nguyên nhân gây ra trượt đất chính là tìm ra các yếu tố tác động gây phá hủy sự ổn định sườn dốc. Quan hệ giữa tổng các lực chống lại sự di chuyển khối đất đá (∑S) và tổng các lực gây trượt (∑T) được T.V. Zvonkova [6] gọi là hệ số ổn định (K) và được xác định theo công thức:

K = ∑S / ∑T                                        (1)

Sườn và đất đá hình thành sườn sẽ trong trạng thái ổn định nếu K > 1, khi mà  ∑S > ∑T. Khi  K = 1, tức là ∑S = ∑T thì sườn nằm trong trạng thái cân bằng giới hạn. Nếu K < 1, tức là ∑S < ∑T thì sườn trong trạng thái không ổn định.

Khi phân tích các lực tác động lên một khối đá nằm trên sườn dốc, thì góc dốc đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập tỷ số ban đầu của các lực chống trượt và gây trượt (Hình 1).


                                                                                                                                                

Hình 1. Các lực tác động lên khối đá nằm trên sườn dốc.

Ghi chú: α: Góc dốc của mặt trượt; P: Trọng lượng khối đá; T: Lực tiếp tuyến có xu thế làm cho khối đá di chuyển xuống sườn dốc (còn gọi là lực gây trượt) và = P.sinα; N: Lực pháp tuyến và = P.cosα; S: Lực ma sát có xu thế giữ khối đá lại trên sườn dốc. Lực ma sát có quan hệ với lực pháp tuyến thông qua hệ số ma sát (f) và được thể hiện theo công thức: S = N.f = P.cosα.tgф (với f =  tgфф là góc ma sát trong của đất đá).


Từ công thức (1) có thể viết:

Ứng với một loại đất đá thì có một giá trị góc ma sát trong xác định, nên khi thay đổi độ dốc của sườn thì hệ số ổn định sẽ thay đổi theo. Ở trạng thái cân bằng giới hạn K = 1, thì ta có: α = ф. Do đó, khi α < ф thì sườn sẽ ổn định.

Trên cơ sở mô hình số địa hình, bản đồ độ dốc, bản đồ đất và bản đồ thực vật cùng với các dẫn liệu đầu vào khác, bản đồ độ ổn định sườn ở tỉnh Quảng Bình được thành lập dưới sự trợ giúp của phần mềm Sinmap chạy trong môi trường Arcview [5]. Diện tích và tỷ lệ của các cấp ổn định được trình bày ở Bảng 1.

Qua Bảng 1 ta thấy diện tích sườn có mức độ không ổn định chiếm hơn 25% địa phận tỉnh Quảng Bình và tập trung ở vùng đồi núi, nơi có tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua. Do đó, để phục vụ cho công tác duy tu, bảo dưỡng và cảnh báo ách tắc giao thông vào mùa mưa lũ, đồng thời phục vụ cho công tác quy hoạch các điểm dân cư và phát triển sản xuất có hiệu quả, các vùng có tiềm năng trượt lở cần phải được nghiên cứu một cách đầy đủ.


Bảng 1. Thống kê diện tích và tỷ lệ ổn định sườn ở tỉnh Quảng Bình

TT

Mức độ ổn định

Diện tích (km2)

Tỷ lệ (%)

1

Rất ổn định

4.598,26

58,9

2

Ổn định

441,88

5,6

3

Tương đối ổn định

755,06

9,7

4

Không ổn định

2.014,74

25,8

Nguồn: Viện Địa lý [5]


b. Quy luật phân bố các điểm trượt đất: Trượt đất xảy ra do nhiều yếu tố tác động như: địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, lớp phủ thực vật và hoạt động của con người [2]. Vì vậy, việc tìm ra quy luật phân bố các điểm trượt là rất khó khăn, nhưng vô cùng cần thiết. Trên cơ sở khảo sát thực địa, kết hợp với việc phân tích mối quan hệ của các vết trượt với các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, bước đầu có thể rút ra một số quy luật như sau:

- Số lượng các điểm trượt đất tỷ lệ thuận với độ cao và độ dốc địa hình. Mặc dù mới trải qua vài mùa mưa, nhưng chúng ta đã và đang phải đối mặt với tai biến trượt đất dọc tuyến đường Hồ Chí Minh. Có trên 50% điểm trượt lở phân bố ở vùng có độ cao địa hình lớn hơn 500 m và độ dốc trên 30o.

- Bề dày lớp vỏ phong hoá càng lớn thì khả năng trượt đất càng cao. Kết quả khảo sát cho thấy chỉ dưới 15% số điểm trượt có bề dày lớp vỏ phong hoá nhỏ hơn 2 m, 35% điểm trượt có bề dày 2-5 m và trên 50% điểm trượt có bề dày trên 5 m.

- Thành phần của đá khác nhau thì khả năng xảy ra trượt lở cũng khác nhau. Địa phận Quảng Bình nằm trọn trên 2 đới cấu trúc Long Đại và Hoành Sơn thuộc miền uốn nếp Việt-Lào. Ở đây phân bố rộng rãi các đá trầm tích, đá biến chất và đá magma axit. Kết quả nghiên cứu cho thấy rất ít khi gặp các điểm trượt tại những nơi phân bố đá magma. Ngược lại, phần lớn các điểm trượt đất xảy ra ở những nơi mà thành phần đá gốc phong hoá là đá trầm tích hoặc đá biến chất.

Bên cạnh các quy luật nêu trên, quá trình trượt đất còn liên quan chặt chẽ với lượng mưa, cường độ mưa và mức độ tác động của con người. Vì vậy, các tháng 10 và 11 là thời gian có khả năng xảy ra nhiều trượt lở trong năm. Ở những nơi thảm thực vật bị phá hủy, thành taluy quá dốc cũng cần đề phòng trượt đất xảy ra.

c. Những trọng điểm trượt đất dọc tuyến đường: Tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua tỉnh Quảng Bình nằm trên vùng đồi núi với độ cao, độ dốc địa hình, thành phần thạch học và lớp vỏ phong hoá khác nhau nên khả năng trượt lở không giống nhau. Kết quả sưu tầm tài liệu và khảo sát thực địa cho thấy có những trọng điểm tiềm ẩn tai biến trượt đất như sau:

-  Đoạn từ Tân Ấp đến Khe Gát: độ cao trung bình 200-300 m, nhưng vùng Tân Ấp và đèo Đá Đẽo có độ cao trên 500 m, địa hình hiểm trở, được coi là những nơi có khả năng trượt đất tương đối cao.

- Đoạn từ Khe Gát đến Làng Ho (nhánh tây): đoạn phía bắc Bố Trạch chủ yếu đi qua vùng đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng nên trượt lở ít có khả năng xảy ra, mà thay vào đó là hiện tượng trượt lở đá. Còn nửa phía nam Bố Trạch lại đi qua vùng núi có độ cao lớn, có nơi trên 1.000 m (thuộc xã Tân Trạch) và hiểm trở, nên đây là vùng có khả năng trượt lở cao nhất. Đoạn từ phía tây nông trường Việt Trung đến Làng Ho có độ cao trung bình 500-600 m, địa hình khá hiểm trở nên cũng rất dễ xảy ra trượt lở, đặc biệt là đoạn từ Làng Cát đến Làng Ho và xã Trường Sơn thuộc huyện Quảng Ninh.

- Đoạn từ Khe Gát đến An Mã (nhánh đông): chủ yếu đi qua vùng gò đồi với độ cao trung bình 20-40 m và độ dốc nhỏ nên ít có khả năng trượt đất. Tuy nhiên, cần lưu ý các vùng Troóc (Bố Trạch) và Trường Xuân (Quảng Ninh) là những nơi có địa hình hiểm trở, dễ xây ra trượt đất và lũ quét.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG TRƯỢT LỞ ĐẤT DỌC TUYẾN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH

1. Các giải pháp khoa học công nghệ

Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể, ta có thể đưa ra những giải pháp phòng chống trượt đất thích hợp. Nhìn chung có các giải pháp chủ yếu sau:

- Chống tác dụng phá hoại của nước mặt bằng cách đào các rãnh thoát nước để đưa nước chảy theo hướng khác hoặc đẩy nhanh quá trình thoát nước mưa trên bề mặt sườn dốc (hệ thống rãnh định hướng, phân bậc sườn dốc) nhằm hạn chế quá trình thấm, trồng các loại cây cỏ chống xói mòn đất.


Hình 2. Sơ đồ hệ thống đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận tỉnh Quảng Bình


- Chống tác dụng phá hoại của nước dưới đất bằng hệ thống thoát nước ngầm (rãnh ngầm, hầm thoát, giếng ngầm...).

- Giảm tải trọng phía trên khối trượt bằng cách đào bỏ một phần đất đá để tăng sự cân bằng tĩnh học (áp dụng khi mặt trượt dốc ở phần trên, thoải ở phần dưới), bạt thoải mái dốc, không xây dựng công trình ở vị trí làm tăng tải trọng trên mái dốc.

- Sử dụng các biện pháp công trình như tường chắn, kè chống xói lở, hệ thống cọc chống đỡ ở chân sườn dốc với móng đặt sâu dưới mặt trượt và nằm trên nền đá gốc.

2. Các giải pháp khác

Để phòng chống trượt đất có hiệu quả, ngoài những giải pháp về khoa học công nghệ nêu trên, cần phải kết hợp với các giải pháp khác như:

- Tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về nguyên nhân và hậu quả của các tai biến thiên nhiên nói chung và trượt đất nói riêng.

- Thành lập các Ban phòng chống tai biến thiên nhiên cấp xã và các nhóm tình nguyện viên cấp thôn bản để đối phó với tai biến có hiệu quả.

- Tiến hành nghiên cứu chi tiết và phân vùng trọng điểm trượt lở, đồng thời hạn chế đi lại trên những đoạn đường có mức độ nguy hiểm cao về mùa mưa lũ.

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu trượt đất dọc đoạn đi qua tỉnh Quảng Bình của tuyến đường Hồ Chí Minh, bước đầu có thể rút ra một số kết luận như sau:

- Trượt đất là một dạng tai biến thiên nhiên xảy ra tương đối phổ biến ở các vùng đồi núi nước ta, nhất là dọc các tuyến giao thông mới được xây dựng.

- Quá trình trượt đất chịu tác động của các yếu tố tự nhiên như: địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, thảm thực vật..., đồng thời vừa chịu sự tác động của con người như: cắt xén chân dốc, tăng tải trọng trên sườn dốc, nổ mìn, hoạt động của các phương tiện cơ giới...

- Trượt đất xảy ra trên tuyến đường Hồ Chí Minh tuân theo quy luật là: độ cao và độ dốc địa hình càng lớn, lớp vỏ phong hoá càng dày và nằm trên đá trầm tích thì dễ xảy ra trượt đât. Ngoài ra, quá trình trượt lở còn liên quan chặt chẽ với lượng mưa, cường độ mưa và mức độ tác động của con người.

- Dọc tuyến đường có một số vùng được coi là trọng điểm trượt đất như các vùng: Tân Ấp (Minh Hoá), Tân Trạch (Bố Trạch), đèo Đá Đẽo, xã Trường Sơn (Quảng Ninh), Làng Cát và Làng Ho (Lệ Thủy).

- Hậu quả của trượt đất là rất nghiêm trọng nên cần kết hợp các giải pháp khoa học công nghệ và giải pháp kinh tế - xã hội một cách đồng bộ để việc phòng chống trượt đất có hiệu quả cao.

Công trình này là kết quả nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu cơ bản mã số 7 130 06 do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ.

VĂN LIỆU

1. Đào Đình Bắc, 2000. Địa mạo đại cương. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

2. Lê Xuân Anh Hào, 2004. Nghiên cứu hiện tượng trượt lở đất đường Hồ Chí Minh đoạn Atep - Đăkzol tỉnh Quảng Nam và đề xuất các giải pháp phòng chống. Luận văn ThS Địa chất, Đại học Huế.

3. Nguyễn Quang Mỹ, 2002. Địa mạo động lực. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

4. Nguyễn Vi Dân, Nguyễn Hiệu, Ngô Văn Liêm, 2006. Trượt lở đất và bước đầu dự báo vùng trượt lở đất ở Bắc Trung bộ bằng phương pháp địa mạo. Tuyển tập BCKH Hội nghị khoa học Địa lý toàn quốc lần thứ II, Hà Nội.

5. Viện Địa lý, 2003. Xây dựng luận cứ khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Quảng Bình sau khi hoàn thành xây dựng đường Hồ Chí Minh. Báo cáo tổng kết đề tài. Lưu trữ Viện Địa lý. Hà Nội.

6. Zvonkova T.V, 1977. Địa mạo ứng dụng. Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.