TUỔI Ar - Ar CÁC ĐÁ
VŨ VĂN TÍCH1, NGUYỄN VĂN VƯỢNG1, PHAN TRƯỜNG THỊ1,
HENRI MALUSKI2, CLAUDE LEPVRIER3
1Khoa Địa chất, Đại học Khoa học Tự nhiên,
Đại học Quốc gia Hà Nội;
2Đại học Montpellier II, Pháp; 3Đại học Paris 6, Pháp
Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu thạch - cấu tạo cho thấy đới trượt cắt Trà Bồng là một
đới biến dạng sâu quy mô lớn, đóng vai trò như một ranh giới giữa các thành tạo
Ngọc Linh và Khâm Đức. Dọc đới trượt cắt, hầu hết các đá bị mylonit hóa và thậm
chí siêu mylonit hóa. Các chỉ thị động học quan sát dọc đới trượt cắt phản ảnh
hoạt động biến chất - biến dạng xẩy ra trong quá trình trượt bằng phải. Hai mẫu
mylonit thành phần granođiorit và điorit đã được phân tích tuổi bằng phương pháp 40Ar - 39Ar
trên các khoáng vật biotit đồng chuyển động. Kết quả tuổi thu được cho thấy đới
trượt cắt Trà Bồng đã trải qua hai pha nhiệt kiến tạo khác nhau. Pha thứ nhất
xẩy ra trong khoảng 223 đến 243 tr.n., pha thứ hai xẩy ra trong khoảng 70 đến
100 tr.n. tương ứng với hai pha tạo núi lớn quy mô khu vực là Inđosini và
Yenshan.
GIỚI THIỆU
Đới trượt cắt Trà Bồng (Trà Bồng shear zone) lộ
ra và kéo dài gần 100 km theo hướng Đ-T, từ thị trấn Khâm Đức qua Trà Bồng và bị
che phủ bởi các thành tạo Đệ tứ khi ra phía biển Đông. Bề rộng của đới giới hạn
bởi hai đứt gẫy Trà Bồng và Hưng Nhượng, xấp xỉ 8 km tại nơi rộng nhất và thu
hẹp dần tại thị trấn Khâm Đức. Tại đây phương cấu trúc chuyển từ Đ-T sang TB-ĐN
và chập với đới trượt cắt Pô Kô phương B-N.
Cấu trúc
địa chất - kiến tạo lãnh thổ Việt
Trên bình đồ cấu trúc,
đới TCTB kéo dài gần 100 km từ khu vực Khâm Đức,
nơi mà nó nối với đới đứt gẫy Sông Pô Kô, rồi chạy theo hướng Đ-T tới thị trấn
Trà Bồng, và bị phủ bởi các thành tạo Đệ tứ khi ra tới biển Đông (Hình1). Đới
TCTB đóng vai trò ranh giới giữa một bên là các thành tạo của phức hệ Ngọc Linh
và một bên là các đá thuộc phức hệ Khâm Đức. Theo bản đồ địa chất [8], về phía
bắc của đới lộ chủ yếu các đá biến chất của phức hệ Khâm Đức, đôi chỗ bị phủ bởi
các thành tạo trầm tích Mesozoi của bồn Nông Sơn. Các thành tạo magma lộ ra chủ
yếu là các đá granit và granođiorit thuộc phức hệ Chu Lai và Bến Giằng - Quế
Sơn. Về phía nam chủ yếu là các đá thuộc phức hệ Ngọc Linh của khối Kon Tum, bao
gồm các đá phiến gneis đôi chỗ bị migmatit hoá và bị các thành tạo granit
Mesozoi xuyên cắt.

Hình1. Sơ đồ địa chất cấu trúc đới TCTB
(đơn giản hoá theo các bản đồ địa chất tỷ lệ 1/200.000)
Chú thích: 1- Đá phiến mica với cấu trúc C/S phức hệ Khâm Đức; 2- Đá phiến gneis phức
hệ Ngọc Linh; 3- Đá đá phiến phức hệ Sa Thầy; 4- Đá mylonit đới TCTB; 5- Đá
granit; 6- Đá granit bị biến dạng; 7- Đá orthogneis granođiorit, điorit; 8- Đá
mafic và siêu mafic; 9- Trầm tích Đệ tứ; 10- Đứt gẫy; 11- Phương cấu trúc biến
dạng phân phiến S1; 12- Chiều cắt phải; 13-
Đứt gẫy Trà Bồng; 14- Đứt gẫy Hưng Nhượng; 15- Đứt gẫy Pô Kô; 16- Điểm lấy mẫu.
Đới TCTB được cấu thành
từ các đá phiến kết tinh, amphibolit và đá xâm nhập thành phần granođiorit –
điorit. Nó được giới hạn bằng hai đứt gẫy lớn, đứt gẫy Trà Bồng ở phía bắc và
đứt gẫy Hưng Nhượng ở phía nam. Bề rộng của đới biến đổi từ 8 đến 1-2 km và thu
hẹp dần về phía tây khi nó chuyển hướng cấu trúc và chập vào đới trượt cắt Pô Kô
(Hình 1). Hầu hết các đá trong đới trượt cắt đều bị biến dạng rất mạnh tạo thành
các đá mylonit, thậm chí siêu mylonit. Xuyên cắt các thành tạo biến chất - biến
dạng nêu trên là các đá granit thuộc phức hệ Hải Vân.
Nghiên cứu đặc điểm thạch - cấu trúc đã được tiến hành theo các mặt cắt
vuông góc với phương cấu trúc của đới tại Trà Bồng, Trà My và Khâm Đức. Kết quả
cho thấy hầu hết các đá quarzit, đá phiến mica, đá phiến thạch anh, amphibolit
và các đá điorit, granođiorit đều thể hiện mức độ biến dạng rất mạnh dưới dạng
đá phiến gneis và mylonit. Các đá này đều có cấu trúc dạng tuyến kéo dài. Các đá
mylonit đều có kiến trúc kiến tạo-L (tectonic–L) đặc trưng, hầu như không thể
phân biệt được cấu tạo phân lớp hay phân dải của các đá ban đầu. Đặc điểm phân
phiến khá đồng nhất dọc theo đới, trong đó cấu tạo phân phiến kết tinh đặc trưng
bằng sự luân phiên giữa các lớp giầu mica và giầu thạch anh - felspat. Phương
cấu trúc phân phiến dao động trong khoảng 90 – 110o và mặt đá phiến
luôn luôn cắm về phía nam với góc cắm biến đổi từ 70 đến 80o, đôi chỗ
gần như thẳng đứng (Hình 1b). Trên các mặt đá phiến này chứa các khoáng vật
silimanit, thạch anh, amphibol kéo dài thành tuyến và định hướng gần như song
song với mặt phẳng nằm ngang tạo góc chúc dao động từ 0 đến 10o (Hình
1b). Đặc điểm cấu trúc này cho thấy chúng hình thành dưới tác động của quá trình
trượt bằng. Các chỉ thị thạch động lực (S/C,
d, s) nghiên cứu ở các tỉ lệ khác nhau cho thấy hoạt động
trượt bằng tương ứng với chiều cắt phải (Hình 1a,b).
Nghiên cứu thạch học cho thấy các đá mylonit có thành phần thạch học khác
nhau, chủ yếu gồm các đá quarzit, đá phiến thạch anh - mica, orthogneis điorit,
orthogneis granođiorit và amphibolit. Phân tích tổ hợp cộng sinh khoáng vật của
các đá có thành phần pelit cho thấy, phần lớn chúng đều đặc trưng chủ yếu bằng
tổ hợp thạch anh - muscovit - biotit - silimanit dạng sợi + anđalusit.
Dưới lát mỏng thạch học, các khoáng vật này đều định hướng. Còn các đá thành
phần điorit và granođiorit được tạo nên bằng các khoáng vật như felspat - K có
kiến trúc perthit nghịch, horblenđ màu vàng nâu phân đới, clinopyroxen tàn dư,
biotit giầu titan. Sự có mặt của muscovit - biotit - silimanit dạng sợi tồn tại
cân bằng trong các đá metapelit và sự tồn tại của các khoáng vật nhiệt độ cao
trong các đá biến chất nguồn gốc xâm nhập cho thấy các đá mylonit này được thành
tạo ở diều kiện nhiệt độ cao. Ngoài ra, sự có mặt của anđalusit minh chứng cho
điều kiện áp suất trung bình thấp. Sự có mặt của các tổ hợp này cho thấy các đá
bị biến chất - biến dạng trong điều kiện nhiệt độ khá cao và áp suất trung bình
thấp thuộc phần thấp của tướng amphibolit.
Như vậy, việc nghiên cứu đặc điểm thạch - cấu trúc cho phép rút ra kết luận
sau : đới TCTB đã trải qua quá trình biến chất đặc trưng cho điều kiện áp suất
trung bình thấp - nhiệt độ khá cao trong quá trình biến dạng dẻo. Đặc tính động
học của đới trượt cắt đặc trưng là chuyển động trượt bằng phải. Để xác định tuổi
của quá trình hoạt động kiến tạo này, chúng tôi đã lấy các mẫu mylonit VN.286,
VN.284 và phân tích tuổi bằng phương pháp 40Ar - 39Ar.
II. ĐẶC ĐIỂM THẠCH HỌC MẪU PHÂN TÍCH
Với mục đích xác định tuổi hoạt động của đới TCTB, chúng tôi đã thu thập
các mẫu mà sự hình thành chúng liên quan trực tiếp đến quá trình chuyển động. Vì
vậy hai mẫu mylonit thành phần điorit và granođiorit (VN.284 và VN.286) đã được
lấy trực tiếp trong đới TCTB, trong đó mẫu VN.284 được lấy từ rìa của đới trùng
với vị trí của đứt gẫy Trà Bồng, còn mẫu VN.286 lấy ở trung tâm. Hai vị trí khác
nhau này sẽ cho phép nghiên cứu sự tiến hoá theo không gian của đới truợt cắt.
Vị trí các mẫu được đưa ra trong Hình 1a.
a. Mẫu mylonit VN.284 (15o15’08’’; 108o34’34’’) có
thành phần granođiorit chứa thạch anh, felspat-K, albit, anđesin, horblenđ,
biotit, epiđot, sphen và zircon. Hầu hết các khoáng vật tạo đá này đều bị kéo
dài và định hướng, minh chứng cho sự kết tinh trong quá trình biến chất đi cùng
biến dạng dẻo.
b. Mẫu mylonit VN.286 có thành phần điorit (15o14’14”;
108o37’59”) với cấu trúc mylonit đặc trưng cho sự phá hủy ở nhiệt độ
cao minh chứng bằng sự phân dải của thạch anh, albit, biotit giầu Ti, apatit,
zicon và oxyt Fe.
Để xác định tuổi hình thành các đá mylonit này chúng tôi đã lấy các khoáng
vật biotit đồng chuyển động trong các mẫu trên để phân tích bằng phương pháp 40Ar - 39Ar.
II. KẾT QUẢ TUỔI ĐỒNG VỊ 40Ar
- 39Ar
Các khoáng vật biotit đồng biến chất - biến dạng tách ra từ các mẫu mylonit
được gửi đi kích hoạt dưới dòng neutron nhanh tại
Bảng 1. Kết quả phân tích tuổi từ khối phổ kế Ar - Ar Laser
Mẫu
|
40Ar*/39Ar |
36Ar/40Ar |
37Ar/39Ar |
% 39Ar |
% khí quyển |
Tuổi +/- 1sd |
|
VN284 Biotit |
x 1000, J = 0,0228 |
|||||
|
450 |
4,014 |
1,807 |
0,082 |
0,5 |
53,4 |
158 ± 30,6 |
|
500 |
2,476 |
1,838 |
0,078 |
1,0 |
54,3 |
99,0 ± 42,5 |
|
550 |
4,000 |
1,076 |
0,049 |
2,9 |
31,8 |
157,4 ± 9,4 |
|
600 |
5,490 |
0,390 |
0,015 |
7,9 |
11,5 |
212,7 ± 3,7 |
|
650 |
5,711 |
0,120 |
0,008 |
22,6 |
3,5 |
220,8 ± 1,5 |
|
700 |
5,864 |
0,056 |
0,005 |
46,4 |
1,6 |
226,3 ± ,8 |
|
750 |
5,923 |
0,051 |
0,007 |
62,0 |
1,5 |
228,5± 1,2 |
|
800 |
5,949 |
0,055 |
0,023 |
66,2 |
1,6 |
229,5 ± 4,3 |
|
850 |
5,781 |
0,147 |
0,048 |
69,9 |
4,3 |
223,3 ± 5,2 |
|
900 |
5,511 |
0,100 |
0,061 |
75,3 |
2,9 |
213,5 ± 0,9 |
|
950 |
5,756 |
0.090 |
0,080 |
83,8 |
2,6 |
222,4 ± 2,3 |
|
1000 |
5,771 |
0,124 |
0,185 |
89,1 |
3,6 |
223,0 ± 3,3 |
|
1050 |
5,762 |
0,167 |
0,127 |
92,8 |
4,9 |
222,6 ± 5,1 |
|
1100 |
5,834 |
0,120 |
0,131 |
97,4 |
3,5 |
225,3 ± 3,7 |
|
1150 |
6,084 |
0,088 |
0,322 |
99,6 |
2,6 |
234,3 ± 7,8 |
|
1300 |
2,872 |
2,727 |
4,664 |
100 |
80,6 |
114,4 ± 51,5 |
VN286 Biotit
|
x1000, J = 0,0228 |
|||||
|
450 |
1,777 |
2,948 |
0,256 |
0,1 |
87,1 |
71,6±83,5 |
|
515 |
1,917 |
1,810 |
0,303 |
0,6 |
||